Chuyện thư từ thời bao cấp

Những lá thư của thời những năm 1960-1980 - Ảnh: Internet
Cứ lẩn thẩn nghĩ, chả biết thư gửi cho nhau có từ khi nào nhưng chắc cũng phải lâu lẩu lầu lâu rồi, xa tít trong quá khứ. Người ta xa nhau thì viết thư. Hồi xưa đi học tôi rất thích mấy câu thơ trong danh tác "Chinh phụ ngâm" của cụ Đặng Trần Côn thời Lê mạt nói về thư tín.

Mấy câu tuyệt bút ấy là: "Thư quy nhân vị quy/Sa song tịch mịch chuyển tà huy/Tà huy tà huy hựu tà huy/Thập ước giai kỳ cửu độ huy" (Thư thường tới, người không thấy tới/Bức rèm thưa lần dãi bóng dương/Bóng dương mấy buổi xuyên ngang/Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai - bản dịch này tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm). Mong thư mà đến mức thế, có lẽ trên đời chả ai mong hơn cô chinh phụ ngóng chồng này.

Phải công nhận bây giờ người ta sướng thật, nhất là bọn trẻ. Nếu phải đi xa, cuộc sống xa cách người thân, mọi lo lắng đối với chúng cứ nhẹ hều. Làm gì nghĩ ngợi cho mệt đầu, bởi khi cần thì móc cái điện thoại di động “ma phôn” bấm bấm vài nhát, tất cả hiện lên ngay trước mặt, cả cha mẹ, vợ chồng con cái, người yêu, bồ biếc, cả khung cảnh quê hương, làng xưa phố cũ, thậm chí con chó con mèo từng gắn bó với mình đang nuôi ở nhà… đều hiện lên tuốt tuột trong máy, sinh động, không khác gì đang bên nhau. Chẳng còn cảm giác xa xôi, trong Nam ngoài Bắc, thậm chí tận bên Mỹ nếu đi máy bay phải mất hơn 1 ngày đằng vân, vậy mà đường vô tuyến viễn liên hàng vạn cây số chỉ trong nháy mắt bấm một nhát là có thể í ới, nhìn nhau được ngay. Với những công nghệ hiện đại như Facebook, Skype, Fiber… vừa trò chuyện, vừa ngấm nguýt liếc nhau, tán phét cả ngày mà không mất xu nào. Thế mới kinh.

Bây giờ ít ai biết hoặc nhớ rằng công nghệ hiện đại, đặc biệt là internet đã giết chết một ngành có bề dày như thành nhà Hồ. Ngành bưu chính. Người lớn lẫn trẻ con chả mấy ai nhắc tới bưu chính nữa. Nó chết dần lặng lẽ, không điếu văn, không sự thương tiếc của người đời. Cùng theo nó xuống mồ quá khứ từng một thời danh giá là con tem và cái bì thư (còn gọi là phong bì: phong tức là sự bao bọc, bì là cái vỏ).

Hồi tôi còn bé, ở miền Bắc những năm thập niên 60, thỉnh thoảng thấy chú nhân viên đưa thư dừng xe đạp ngoài ngõ gọi vọng vào, ông ơi, ông có thư này. Thày (bố) tôi ra nhận thư, hôm nào chú đưa thư bận thì đạp xe đi ngay, có hôm vào uống nước. Thư của một người bạn bên Pháp gửi về cho thày tôi, những chiếc phong bì rất đẹp, in nhiều hình ảnh nước Pháp. Thày tôi lấy chiếc kéo con, cắt cẩn thận, đọc xong xếp ngay ngắn cả vỏ cả ruột thư vào chiếc hộp sắt tây, lưu lại như một thứ kỷ vật. Dạo anh Uy tôi đi học ở Liên Xô, thư gửi về, thày tôi cũng làm như vậy. Sau khi thày tôi mất, mấy chị em tôi vẫn giữ y nguyên những lá thư và chiếc hộp sắt ấy, mỗi lần giở ra coi luôn có cảm giác ấm nóng, gần gũi, dường như thày mình chỉ tranh thủ ra vườn hoặc vừa đi đâu vắng chút xíu rồi lại về.

Ông anh tôi, năm 1969 đăng lính, đầu năm 1970 vào chiến trường B (thời đánh Mỹ, ký hiệu A là chiến trường miền Bắc, B là miền Nam, C là Lào, D là Campuchia - sau này gọi là K), đi đến đâu cũng viết thư về. Thư kể rằng hành quân trên đường Trường Sơn, có lúc mệt đến mức không còn cảm giác đôi chân đang bước nữa, chiếc ba lô như khối sắt nặng ngàn cân đè lên người, nếu dứt bỏ được chiếc cúc áo cho nhẹ bớt thì cũng vặt ra mà vứt đi ngay, bớt tí nào hay tí ấy. Trước đó tôi đọc văn thơ, nghe văn nghệ sĩ kể lính ta hành quân ra trận còn đem theo cả truyện Kiều, cả thơ văn Hồ Chủ tịch, phục lắm, sao mà các anh ấy hào hoa thế, sau khi đọc thư anh trai, tôi tự dưng đâm ra nghi nghi, có thể các bác văn nghệ nhà ta nói quá lên chăng. Vừa rồi, nhà thơ Đặng Vương Hưng công bố cuốn nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của anh Nguyễn Văn Thạc (anh Thạc đoạt giải nhất văn miền Bắc năm 1970, học Khoa toán Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, đi bộ đội năm 1971 và hy sinh năm sau), anh lính Thạc đậm chất văn chương, ham đọc sách nhưng chính anh cũng từng ghi trong cuốn nhật ký nổi tiếng kia đại loại rằng những cuốn sách lúc này không cần thiết, chỉ nên dành cho tương lai bởi nó làm vướng víu hành trang người lính.

Một ông bạn học phổ thông với tôi, anh Vũ Trường Thành người xã Minh Tân cùng huyện Kiến Thụy (Hải Phòng), khi đang học năm cuối (lớp 10) chưa kịp thi tốt nghiệp thì miền Bắc có đợt tuyển quân bổ sung cho mặt trận Quảng Trị. Năm 1972, cả thầy Nguyễn Văn Mễ chủ nhiệm lớp 10 và đám hơn chục trai tráng trường cấp 3 Kiến Thụy lên đường. Thành vào Quảng Trị, đánh nhau mấy tháng ở đó. Khi đã rời thành cổ do bị thương, y gửi về cho tôi lá thư chiến trường. Điều đặc biệt là thư viết bằng giấy pơ luya màu xanh nhạt, thứ giấy chuyên viết thư của binh lính quân đội Sài Gòn, góc trái phía trên còn in hẳn cái lô gô đầu trâu và dòng chữ “Tiểu đoàn Trâu điên”. Tôi đọc đi đọc lại tấm thư tình nghĩa của ông bạn, thích thú với mảnh pơ luya xanh ấy lắm, cất kỹ chả kém gì ngày xưa thày tôi giữ thư trong hộp sắt tây. Suốt 4 năm đại học, lúc nào tôi cũng ép nó dưới đáy chiếc hòm gỗ khóa chuông mua ở phố Hàng Bông. Cuối năm 1976 bọn tôi tốt nghiệp ra trường, hòm bị mọt, tôi tống tất cả quần áo, sách vở, đồ kỷ niệm… vào chiếc ba lô anh tôi trước khi vào Nam cho (bởi được phát quân trang mới), hóa kiếp chiếc hòm gắn bó cả đời sinh viên. Đi miền Nam nhận công tác, đem thư bạn vào Sài Gòn, thỉnh thoảng vẫn lôi ra đọc. Ai ngờ hôm mình đi vắng, đám vợ con dọn dẹp nhà, thấy xếp giấy “linh tinh” (về sau bọn hắn biện bạch vậy) để trên giá sách, tưởng đồ bỏ đi, gộp với đống báo cũ bán ve chai hết. Tiếc đứt ruột. Nhiều lúc nghĩ vẩn vơ, bác Đặng Vương Hưng mà vớ được bức thư ấy có khi trả cả cây vàng, mà chưa chắc mình đã bán. (còn tiếp)

Xuân Quỳnh


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận0

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.