Thông qua Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi): Vẫn yêu cầu luật sư tố giác thân chủ

Chiều 20.6, Quốc hội biểu quyết thông qua nhiều luật - ẢNH: VPQH
Chiều 20.6, Quốc hội đã thông qua dự thảo Bộ luật Hình sự (2015) sửa đổi với 88,39% đại biểu tán thành, không tán thành 19,3.87% và chỉ 4 đại biểu không biểu quyết.

Theo dự thảo mới nhất của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi), luật sư bào chữa phải chịu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa.

Tại báo cáo tiếp thu, giải trình, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) tập hợp 4 loại ý kiến khác nhau về sửa đổi, bổ sung điều 19 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS 2015).

Phương án 1: Chỉ quy định trách nhiệm hình sự của người bào chữa trong trường hợp “không tiết lộ thông tin về tội phạm do chính người mà mình bào chữa thực hiện đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Điều 108 (Tội phản bội Tổ quốc), Điều 109 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), Điều 112 (Tội bạo loạn), Điều 113 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân) và Điều 123 (Tội giết người) khi có căn cứ rõ ràng cho thấy tội phạm đó đang thực hiện hoặc đang chuẩn bị thực hiện mà cần thiết phải ngăn chặn hậu quả xảy ra”.

Phương án 2: Đề nghị bỏ khoản 3 điều 19 của Bộ luật Hình sự năm 2015, bởi vì quy định như BLHS 2015 là xung đột với Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự (người bào chữa không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa); không tương thích với thông lệ quốc tế, không bảo đảm quyền bào chữa, nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử và nguyên tắc nghề nghiệp của luật sư.

Phương án thứ 3: Đề nghị giữ phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người bào chữa như BLHS 2015 để bảo đảm nhất quán về chính sách hình sự của Nhà nước, tăng cường trách nhiệm công dân của người bào chữa trong việc đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội đặc biệt nghiêm trọng.

Phương án 4: Đề xuất quy định chính sách đối với người bào chữa tương tự như chính sách đối với ông, bà, cha, mẹ, anh chị em ruột... của người phạm tội quy định tại BLHS 2015.

Trong báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, UBTVQH cho rằng, về nguyên tắc, với tư cách là công dân thì người bào chữa có nghĩa vụ bình đẳng như mọi công dân khác trong việc tố giác tội phạm. Nguyên tắc này đã được Hiến pháp ghi nhận và thể chế hóa trongg các luật về tư pháp từ trước đến nay. Điều 4 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm”; Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định “… cá nhân có nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm..

UBTVQH cho biết đã cân nhắc đặc thù của hoạt động bào chữa, mối quan hệ giữa người bào chữa với người được bào chữa; nhưng việc Nhà nước không miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm của người bào chữa xuất phát từ mục đích bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng nên trong một số trường hợp người bào chữa vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi không tố giác tội phạm của chính người mà mình bào chữa.

Mặt khác, vấn đề này cũng đã được Quốc hội tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong quá trình xây dựng BLHS 2015. Kết quả cho thấy, đa số ý kiến nhân dân không đồng ý miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm của người bào chữa.

BLHS 2015 đã xác định người bào chữa phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa thực hiện đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng (ở cả ba giai đoạn: Chuẩn bị phạm tội, đang thực hiện tội phạm và đã thực hiện tội phạm). Đối với các tội khác được quy định tại Điều 389, người bào chữa chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự ở hai giai đoạn chuẩn bị phạm tội và đang thực hiện tội phạm.

UBTVQH cho rằng chính sách này phù hợp với quy định của Luật Luật sư, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam và phù hợp với luật pháp của nhiều nước như Trung Quốc, Đức, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Canada...

“Đây là vấn đề được nhiều ĐBQH và dư luận xã hội quan tâm nên sau khi báo cáo cơ quan có thẩm quyền, cân nhắc kỹ nhiều mặt, UBTVQH xin Quốc hội cho tiếp thu một phần ý kiến của ĐBQH, của Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam để chỉnh lý khoản 3 Điều 19 BLHS 2015 theo hướng thu hẹp hơn phạm vi chịu trách nhiệm của người bào chữa về hành vi không tố giác tội phạm”, UBTVQH nêu.

Hoài Phong


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận4

  • Trần Thế HòaReply

    21-6-2017 08:35:00

    Cần nói rõ thêm, ở nước ngoài: luật sư khi nhận việc tranh tụng cho một thân chủ, nhưng trong quá trình xử lý (điều tra) họ thu thập được nhiều thông tin, chứng cứ thân chủ của họ (ví dụ một công ty hay tập đoàn sản xuất hóa chất) có gây hại cho môi trường cộng đồng...thì luật sư có quyền từ chối không đứng ra nhận công việc bảo vệ thân chủ nữa. Có nghĩa là đối tượng (công ty, tập đoàn trên) "không còn là thân chủ" của họ, hợp đồng giữa luật sư và thân chủ đã được hủy bỏ. Lúc này luật sư có quyền theo đuổi việc đưa ra các bằng chứng để tố cáo việc sai phạm của đối tượng. Tuy nhiên, phải hiểu việc làm này xuất phát từ nhu cầu đạo đức của luật sư. Không một cơ chế nào buộc họ phải làm việc này và phải chịu trách nhiệm (chế tài)...nếu không làm!

  • Trần Thế HòaReply

    21-6-2017 08:06:36

    Có những lĩnh vực mà lấy ý kiến của đa số (người không chuyên môn) không cần thiết, không có ý nghĩa hoặc đôi khi phản tác dụng. Khoa học tự nhiên nằm trong khu vực này. Đối tượng bị điều chỉnh bởi luật là xã hội vì nó thuộc về khoa học xã hội và nhân văn...nhưng việc soạn thảo luật phải là tinh hoa của xã hội - những người có chuyên môn về luật học, có kiến thức sâu rộng về luật, luật chung (common law), công pháp quốc tế. Ngoài tranh biện để bảo vệ thân chủ trước tòa, luật sư còn đảm nhiệm việc điều tra vụ án theo chuyên môn. Thông tin riêng mà luật sư thu thập được trong quá trình thụ lý vụ án...thì ở các nước không quy định phải bắt buộc (có chế tài), phải trình bày với chính quyền (hoặc chánh án), họ có quyền từ chối không tham gia quy trình tố tụng như vậy và từ chối việc bảo vệ thân chủ (tranh tụng) nếu "đạo đức của họ" không cho phép. Nghĩa là quyền của luật sư được pháp luật công nhận. Đó là quyền được tự do trong nghề nghiệp mà không phải chịu trách nhiệm (chế tài) về công việc trước pháp luật. Tóm lại, nghề luật sư là một nghề đặc biệt có những đặc thù riêng của xã hội, và như vậy, họ cần có được điều chỉnh bởi một quy chế riêng về nghề nghiệp và bản thân.

  • Hồ Quang HuyReply

    20-6-2017 09:43:02

    Với khoản 3 điều 19 Bộ luật Hình sự là đã xung đột với Bộ luật Tố Tụng hình sự cũng như Luật Luật sư. Thật vậy, điểm g khoản 2, điều 73 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định: “Người bào chữa có nghĩa vụ không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản” Còn điều 25 Luật Luật sư thì quy định: “Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác.” Bộ Luật Tố tụng hình sự còn quy định: người bị giữ, bị tạm giữ, bị bắt, bị can, bị cáo“không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình”. Để được luật sư bảo vệ tốt nhất, họ phải tiết lộ các tình tiết vụ án và luật sư dùng thông tin đó để tố ngược thân chủ thì chẳng khác nào bắt người bị giữ, bị tạm giữ, bị bắt ... đưa lời khai chống lại chính họ (cho dù khai gián tiếp qua LS). Như vậy chính điều luật này gây ra băng hoại đạo đức của các luật sư. Khi bào chưa cho thân chủ thì đứng về phương diện gỡ tội thì chính thân chủ và luật sư là một cho nên đã không buộc thân chủ khai báo chống lại họ thì cũng không thể buộc luật sư phải tố cáo thân chủ. Tôi đã đọc 2 bài viết của một luật sư người Nhật về quy định tố giác tội phạm trong luật hình sự Nhật. Theo đó thì việc tố cáo tội phạm ở Nhật là quyền của mọi công dân (kể cả luật sư) nhưng không bắt buộc. Riêng các công chức trong khi thi hành công vụ mà biết được một cách chắc chắn có hành vi tội phạm thì phải có nghĩa vụ tố cáo còn ngoài thời gian công vụ mà phát hiện hành vi tội phạm thì không có nghĩa vụ phải tố cáo. Hôm qua đài Truyền hình Việt nam cũng phát sóng các ý kiến của giới luật sư và chuyên gia Mỹ nói luật của họ cũng quy định tố cáo tội phạm là quyền chứ không phải nghĩa vụ của công dân. Riêng luật sư trong quá trình bào chữa mà phát hiện thân chủ chuẩn bị phạm tội (chỉ một số tội) thì mới phải tố cáo. Tôi cho rằng các quy định như Nhật hay Mỹ là hợp lý, bởi vì các công chức, viên chức nhà nước được người dân đóng thuế nuôi họ để họ bảo vệ thì trách nhiệm phòng chống tội phạm là trách nhiệm phải làm của chính họ. Không thể vì yếu kém mà bắt người dân (trong đó đặc biệt là luật sư) phải làm thay. Vì vậy nói chính sách pháp luật như vậy là phù hợp với pháp luật của Mỹ là không đúng. Nói rằng quy định này cũng để phù hợp với Điều 4 Bộ luật Hình sự: “Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm”và Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự “… cá nhân có nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm..” cũng không thuyết phục bởi nếu bỏ khoản 3 điều 19 thì cũng không trái các điều 4 và 5 nói trên vì ngoài thân chủ ra thì luật sư vẫn tố cáo tội phạm trong các trường hợp khác. Hay nói qua quá trình lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, đa số đồng ý cũng khong thuyết phục vì điều đó chưa nói lên đa số trong hơn 60 triệu cử tri đã đồng ý với điều này.

  • Hồ Quang HuyReply

    20-6-2017 09:29:21

    Với khoản 3 điều 19 Bộ luật Hình sự là đã xung đột với Bộ luật Tố Tụng hình sự cũng như Luật Luật sư. Thật vậy, điểm g khoản 2, điều 73 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định: “Người bào chữa có nghĩa vụ không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản” Còn điều 25 Luật Luật sư thì quy định: “Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác.” Bộ Luật Tố tụng hình sự còn quy định: người bị giữ, bị tạm giữ, bị bắt, bị can, bị cáo“không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình”. Để được luật sư bảo vệ tốt nhất, họ phải tiết lộ các tình tiết vụ án và luật sư dùng thông tin đó để tố ngược thân chủ thì chẳng khác nào bắt người bị giữ, bị tạm giữ, bị bắt ... đưa lời khai chống lại chính họ (cho dù khai gián tiếp qua LS). Như vậy chính điều luật này gây ra băng hoại đạo đức của các luật sư. Khi bào chưa cho thân chủ thì đứng về phương diện gỡ tội thì chính thân chủ và luật sư là một cho nên đã không buộc thân chủ khai báo chống lại họ thì cũng không thể buộc luật sư phải tố cáo thân chủ. Tôi đã đọc 2 bài viết của một luật sư người Nhật về quy định tố giác tội phạm trong luật hình sự Nhật. Theo đó thì việc tố cáo tội phạm ở Nhật là quyền của mọi công dân (kể cả luật sư) nhưng không bắt buộc. Riêng các công chức trong khi thi hành công vụ mà biết được một cách chắc chắn có hành vi tội phạm thì phải có nghĩa vụ tố cáo còn ngoài thời gian công vụ mà phát hiện hành vi tội phạm thì không có nghĩa vụ phải tố cáo. Hôm qua đài Truyền hình Việt nam cũng phát sóng các ý kiến của giới luật sư và chuyên gia Mỹ nói luật của họ cũng quy định tố cáo tội phạm là quyền chứ không phải nghĩa vụ của công dân. Riêng luật sư trong quá trình bào chữa mà phát hiện thân chủ chuẩn bị phạm tội (chỉ một số tội) thì mới phải tố cáo. Tôi cho rằng các quy định như Nhật hay Mỹ là hợp lý, bởi vì các công chức, viên chức nhà nước được người dân đóng thuế nuôi họ để họ bảo vệ thì trách nhiệm phòng chống tội phạm là trách nhiệm phải làm của chính họ. Không thể vì yếu kém mà bắt người dân (trong đó đặc biệt là luật sư) phải làm thay.

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.