Quốc hội thông qua Bộ luật Lao động: Tăng tuổi hưu, Quốc khánh nghỉ 2 ngày

Thông qua Bộ luật Lao động - Ảnh : VPQH
Với 435/453 đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi), trong đó "chốt" phương án tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình.

Sáng 20.11, Quốc hội biểu quyết thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi) với tỷ lệ ủng hộ hơn 90%, trong đó "chốt" phương án tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình.

Bộ luật Lao động (sửa đổi) được thông qua với tỷ lệ tán thành 90,06% (435 đại biểu tán thành trong số 453 đại biểu tham gia biểu quyết). Số đại biểu không tán thành là 9, có 9 đại biểu không biểu quyết.

Quốc khánh được nghỉ hai ngày

Về nghỉ lễ tết, bộ luật quy định người lao động được nghỉ làm việc, hưởng lương 11 ngày mỗi năm, trong đó Tết Nguyên đán được nghỉ 5 ngày, lễ Quốc khánh được nghỉ 2 ngày, các dịp tết Dương lịch, ngày Chiến thắng (30.4), Quốc tế Lao động và ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đều được nghỉ 1 ngày.

Bộ luật cho phép lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam được nghỉ thêm một ngày Tết cổ truyền dân tộc và ngày Quốc khánh của nước họ. Hằng năm căn cứ vào điều kiện thực tế, Thủ tướng Chính phủ quyết định cụ thể ngày nghỉ.

Về giờ làm thêm, lần sửa đổi này vẫn giữ quy định như Bộ luật Lao động hiện hành nhưng có nâng giới hạn làm thêm giờ tối đa trong tháng từ 30 giờ lên 40 giờ và bổ sung cụ thể các trường hợp được tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.

Tăng tuổi hưu theo lộ trình

Về vấn đề tuổi nghỉ hưu, bộ luật quy định: Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 3 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 4 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với lao động nam và 4 tháng đối với lao động nữ.

Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 5 tuổi so với quy định tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 5 tuổi so với quy định tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Chính phủ quy định chi tiết điều này.

Số giờ làm thêm không quá 200 giờ/năm

Về vấn đề làm thêm giờ, người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu như: Phải được sự đồng ý của người lao động; Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 1 ngày.

Trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 1 ngày; không quá 40 giờ trong 1 tháng; Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 1 năm.

Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ trong 1 năm trong một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây: Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản; Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước.

Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời; Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn, do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước do hậu quả thời tiết, thiên tai, địch họa, hỏa hoạn, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất.

Đối với làm thêm giờ trong trường hợp đặc biệt, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào mà không bị giới hạn về số giờ làm thêm theo quy định tại điều 107 của bộ luật này.

Người lao động không được từ chối trong các trường hợp sau đây: Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật; Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh và thảm họa, trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

Lam Thanh


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận0

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.