Sốc nhiệt ở bé trai 3 tuổi bị bỏ quên trên xe nguy hiểm đến đâu?

Trường mầm non Đồ Rê Mí đã bỏ quên bé trai 3 tuổi đến 7 giờ đồng hồ - Ảnh: Internet
Sự việc bé trai 3 tuổi (quê Bắc Ninh) bị bỏ quên trên xe ô tô suốt 7 giờ đồng bị hôn mê sâu và nguy kịch vừa được các bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương xác định là do bé bị sốc nhiệt. Vậy bệnh lý sốc nhiệt này diễn ra như thế nào, mức độ nguy hiểm ra sao đối với người bệnh?

Vì sao bị sốc nhiệt

Vừa xảy ra vụ một bé trai 3 tuổi lớp mầm non bị bỏ quên đến 7 tiếng đồng hồ từ sáng đến chiều 13.9 trên xe đưa đón của Trường mầm non Đồ Rê Mí (huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh). Sau đó, bé trai này được chuyển đến Bệnh viện Sản nhi tỉnh Bắc Ninh cấp cứu trong tình trạng lơ mơ, sốt cao trên 38 độ do mất nước rồi chuyển đến Bệnh viện Nhi Trung ương trong tình trạng hôn mê, gọi không đáp ứng. Các bác sĩ ở đây đã chẩn đoán bệnh nhân bị sốc nhiệt.

Theo các chuyên gia y tế, sốc nhiệt là bệnh lý đặc trưng do tình trạng nhiệt độ cơ thể trên 40 độ C kèm theo rối loạn chức năng thần kinh (rối loạn ý thức, hôn mê, co giật...).

Bệnh sốc nhiệt được chia làm 2 nhóm là sốc nhiệt kinh điển và sốc nhiệt do gắng sức. Đối với sốc nhiệt kinh điển thường gặp ở những người già, suy nhược cơ thể, trẻ em, người có bệnh lý tim mạch, bệnh thần kinh hay các rối loạn nội tiết; còn sốc nhiệt gắng sức thường gặp ở người trẻ, khỏe mạnh, điều hòa nhiệt độ bình thường. Những trường hợp bị sốc nhiệt gắng sức thường là do phơi nhiễm với nhiệt độ môi trường tăng cao cũng như do sinh nhiệt lúc vận động gắng sức.

Các chuyên gia y tế chỉ ra nguyên nhân của căn bệnh sốc nhiệt chính là do tốc độ sinh nhiệt vượt khả năng đào thải nhiệt của cơ thể. Sự tiến triển thành sốc nhiệt và tổn thương cơ quan có liên quan đến đáp ứng sinh lý của tăng nhiệt độ, ngộ độc nhiệt trực tiếp và đáp ứng viêm.

Trong đó, tăng nhiệt độ được xác định bằng lượng nhiệt từ môi trường và nhiệt do chính cơ thể sinh ra. Quá trình này được cơ thể điều chỉnh chặt chẽ, nếu không khi nghỉ ngơi tốc độ chuyển hóa cơ bản sẽ làm tăng thân nhiệt 1,1 độ C/giờ.

Ngộ độc nhiệt là nhiệt độ tăng cao quá mức tế bào chịu đựng dẫn tới thoái hóa protein. Cơ thể có thể bị tổn thương trong thời gian từ 45 phút đến 8 giờ sau khi thân nhiệt ở 42 độ C.

Đáp ứng viêm chính là sau khi bị stress nhiệt, sản sinh ra nhiều chất trung gian của đáp ứng viêm nhằm bảo vệ và sửa chữa tổn thương.

Mức độ nguy hiểm của bệnh

Biểu hiện của bệnh lý sốc nhiệt là nhiệt độ trên 40 độ C, da nóng và khô. Các dấu hiệu của bệnh lý này là thường mệt, đau đầu, khó thở, đỏ mặt, mửa và tiêu chảy; đồng thời rối loạn nhịp tim, tụt huyết áp. Đặc biệt hơn, bệnh sốc nhiệt còn gây rối loạn hô hấp, rối loạn thần kinh trung ương, suy gan, suy thận, rối loạn đông máu, tiêu cơ vấn...

Bên cạnh đó, sốc nhiệt còn gây biến chứng cho tất cả các cơ quan như: phù phổi, viêm phổi, tụt huyết áp, tăng men tim, thủng cơ tim, suy thận cấp, hoại tử ống thận cấp, hạ kali máu, tăng kali máu, rối loạn đông máu, liệt nửa người, hôn mê, vàng da, suy gan...

Với những trường hợp bị sốc nhiệt được tiên lượng xấu khi bị hoại tử tế bào gan, rối loạn đông máu, toan lactic, nhiệt độ trên 42,2 độ C, hôn mê trên 4 giờ, suy thận, tăng kali máu, tăng thân nhiệt kép dài...

Điều trị bằng cách nào

Cũng theo các chuyên gia y tế, khi bị sốc nhiệt, cần phải lập tức hạ thân nhiệt và hỗ trợ chức năng các cơ quan.

Bệnh nhân sau khi được đưa ra khỏi môi trường nóng cần phải cởi bỏ quần áo, chuyển tới bóng râm. Bệnh nhân được hỗ trợ đường thở, hô hấp, tuần hoàn bằng cách đặt đường truyền tĩnh mạch, thở oxy, thông khí hỗ trợ nếu có chỉ định. Lập tức vận chuyển bệnh nhân đến bệnh viện. Xe vận chuyển bệnh nhân phải có điều hòa nhiệt độ, hoặc mở cửa số, có thể vừa vận chuyển vừa hạ nhiệt bệnh nhân.

Tại bệnh viện, bệnh nhân cần được làm mát để hạ thân nhiệt càng nhanh càng tốt (lý tưởng nhất là mỗi phút phải hạ được thân nhiệt của bệnh nhân xuống 0,2 độ C), nhiệt độ trực tràng xuống 38 độ C, nhiệt độ da xuống 30 đến 33 độ C, nhưng tránh hạ quá sẽ gây tác dụng phụ do hạ thân nhiệt.

Để làm lạnh bên ngoài cho bệnh nhân hiệu quả nên sử dụng nước lạnh từ 20 đến 25 độ C để ngâm bệnh nhân. Khi ngâm phải để đầu bệnh nhân trên mặt nước theo dõi sát các chức năng sống. Đồng thời đặt các túi chườm đá vào vùng bẹn, cổ, nách; sử dụng chăn làm lạnh.

Riêng làm mát bên trong có thể dùng nước đá để rửa dạ dày hoặc thụt hậu môn, dùng nước đá để rửa màng bụng; đặt catheter lạnh vào trong tĩnh mạch chủ trên với phương tiện làm lạnh Cool Gard; hạ thân nhiệt bằng tuần hoàn cơ thể.

Ngoài ra, cũng có thể làm lạnh theo nguyên lý bốc hơi và đối lưu bằng cách cởi bỏ quần áo, đặt trong phòng lạnh 20 đến 22 độ C và quạt; phun nước 25 đến 30 độ C và quạt; phủ gạc ướt 20 đến 25 độ C lên bệnh nhân và quạt hoặc sử dụng đơn vị làm lạnh đặc biệt ở nhiệt độ 15 độ C và không khí ấm 45 độ C trên toàn bộ bề mặt cơ thể để giữ nhiệt độ da ở mức 32 đến 33 độ C.

Ngoài việc làm lạnh, bệnh nhân cần phải được hỗ trợ các cơ quan như: ổn định chức năng hô hấp, tuần hoàn, thở máy khi bị suy hô hấp, bù dịch theo áp lực tĩnh mạch trung tâm, sử dụng thuốc nâng huyết áp nếu cần, tránh các thuốc kích thích. Nếu bệnh nhân có biểu hiện tiêu cơ vân phải được bù nhiều dịch và lợi tiểu. Những trường hợp bị suy đa tạng phải tiến hành lọc máu, lọc gan, tuần hoàn ngoài cơ thể ( ECMO)...

Hồ Quang


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận0

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.