Gia nhập CPTPP: Thách thức của việc nội luật hóa vấn đề sở hữu trí tuệ

Nhiều nội dung Luật sở hữu trí tuệ sẽ được sửa đổi để thực thi các quy định của CPTPP - Ảnh minh họa
Dù CPTPP đã tạm hoãn 10 cam kết rất cao về sở hữu trí tuệ của TPP, nhưng những quy định còn lại vẫn sẽ đặt ra khó khăn không nhỏ cho Chính phủ hay doanh nghiệp của Việt Nam khi thực thi.

Tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa 14, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh trình bày tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ.

Quốc hội cho biết sẽ sửa đổi, bổ sung 11 điều thuộc 8 chương của Luật Sở hữu trí tuệ để thực thi các cam kết trong 8 điều của Hiệp định CPTPP, cụ thể:

Nội dung sửa đổi về sáng chế như sửa Điều 60 theo hướng dành cho các đơn nộp vào Việt Nam hưởng ngoại lệ rộng hơn, không giới hạn về địa điểm bộc lộ và thời gian ân hạn là 12 tháng kể từ ngày thông tin bị bộc lộ).

Vấn đề chỉ dẫn địa lý sẽ sửa đổi khoản 1 Điều 80 về cách đánh giá một thuật ngữ là tên gọi chung của hàng hoá tại Việt Nam, quy định việc đánh giá phải dựa trên cách hiểu của người tiêu dùng tại Việt Nam; sửa đổi khoản 3 Điều 80 về đánh giá khả năng gây nhầm lẫn của chỉ dẫn địa lý với nhãn hiệu; bổ sung điều về công nhận và bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo điều ước quốc tế, trong đó xác định việc công bố, xử lý ý kiến cuả người thứ ba…

Về nhãn hiệu, dự thảo luật cũng bổ sung vào Điều 89 quy định việc nộp đơn nhãn hiệu bằng phương tiện điện tử, đồng thời sửa đổi khoản 2 Điều 136 về nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu và sửa đổi quy định về hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu.

Liên quan đến nội dung về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, dự thảo luật cũng sửa đổi quy định theo hướng bổ sung quy định về cách tính giá trị trong việc quyết định bồi thường thiệt hại; bổ sung khoản 4 Điều 198 theo hướng quy định Toà án có quyền yêu cầu bên thua kiện phải thanh toán cho bên thắng kiện; bổ sung khoản 5 Điều 198 quy định bồi thường thiệt hại do lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Cùng với đó là sửa đổi khoản 1 Điều 218 về nghĩa vụ cung cấp thông tin cho chủ thể quyền của cơ quan hải quan trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định tạm dừng trong trường hợp chủ thể quyền không yêu cầu kiểm tra giám sát, nhưng yêu cầu làm thủ tục tạm dừng hải quan và đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định…

Ông Nguyễn Ngọc Hà, giảng viên Đại học Ngoại Thương, cho rằng CPTPP có thể được coi là một trong những FTA mà ở đó Việt Nam phải thực thi những quy định có tiêu chuẩn cao nhất trong lĩnh vực này. Dù CPTPP đã tạm hoãn 10 cam kết rất cao về sở hữu trí tuệ của TPP, những quy định còn lại vẫn sẽ đặt ra những khó khăn không nhỏ cho Chính phủ hay doanh nghiệp của Việt Nam khi thực thi.

Theo ông Hà, Dự thảo lần này đã bộc lộ một số điểm hạn chế mà ban soạn thảo cần phải cân nhắc. Ví dụ: quy định mới được bổ sung là khoản 4 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ để nội luật hóa Điều 18.74.10 của CPTPP sẽ cho phép tòa án có quyền yêu cầu bên thua kiện phải thanh toán cho bên thắng kiện “chi phí hợp lý để thuê luật sư” có thể gây nhiều khó khăn cho việc xác định mức hợp lý của chi phí thuê luật sư.

Điều đó gây khó khăn cho tòa án Việt Nam vì theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì không phải trường hợp nào khoản chi phí này cũng được bồi thường.

Đồng thời, Điều 18.74.10 của CPTPP chỉ yêu cầu áp dụng quy định này tối thiểu cho các vụ tranh chấp về quyền tác giả hoặc quyền liên quan, sáng chế và nhãn hiệu. Trong khi đó, tại khoản 4 Điều 198 dự thảo nêu trên cho phép áp dụng quy định này cho mọi tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ.

Ngoài ra, một số quy định về chỉ dẫn địa lý (như tại dự thảo khoản 1, khoản 3 Điều 80 ) được cho là đã tạo nên chế độ bảo hộ cao hơn so với cam kết của Việt Nam trong CPTPP…

Bên cạnh đó, theo ông Hà, có một vấn đề khá quan trọng chưa được thể hiện rõ trong dự luật, đó là phạm vi áp dụng về không gian của các quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi.

Theo đó. các quy định được sửa đổi trong Luật Sở hữu trí tuệ sẽ được áp dụng đầy đủ đối với tất cả các tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật, tức là rộng hơn rất nhiều so với các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia thành viên CPTPP. Điều này có thể cho thấy quyết tâm của Việt Nam trong việc xây dựng khung pháp luật tiêu chuẩn cao về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Ngược lại, nó cũng có thể tạo ra những khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam khi gặp phải sự cạnh tranh của các doanh nghiệp đến từ các quốc gia không phải là thành viên CPTPP nhưng lại được hưởng những ưu đãi của CPTPP.

Ông Hà cho rằng, những quy định tạo nên chế độ bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ cao hơn so với CPTPP cũng cần được xem xét điều chỉnh lại cho hợp lý. Ví dụ, với khoản 4 Điều 198 trong dự thảo, có thể giới hạn để chỉ áp dụng đối với các tranh chấp về quyền tác giả hoặc quyền liên quan, sáng chế và nhãn hiệu.

Sau đó, khi đã có những tổng kết về thực tiễn áp dụng, Việt Nam mới nên xem xét việc mở rộng phạm vi áp dụng của quy định này cho các vụ tranh chấp liên quan đến các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ.

“Khi đổi mới, sáng tạo đã trở thành một chủ trương lớn, việc chủ động tuân thủ và vận dụng đúng đắn các quy định của CPTPP không chỉ trên lãnh thổ Việt Nam mà còn trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên CPTPP khác sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng được những lợi thế mà các quy định đó mang lại”, ông Hà nói và cho rằng, từ đó, có thể tạo ra các lợi thế cạnh tranh và kinh doanh trên thị trường.

Lam Thanh


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận0

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.