KTNN chỉ ra hàng loạt sai phạm trong thực hiện các dự án đầu tư công

Kết quả kiểm toán các dự án đầu tư công đã cho thấy lộ ra nhiều vấn đề - Ảnh chỉ mang tính minh họa
Công tác phê duyệt chủ trương đầu tư một số dự án đầu tư công chưa căn cứ theo kế hoạch, phê duyệt dự án khi chủ trương đầu tư chưa được phê duyệt, chưa đủ thủ tục, chưa có báo cáo đánh giá tác động môi trường, tiến độ chậm…

Đoàn công tác Vụ Các vấn đề tài khóa (FAD) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Ngân hàng Thế giới (WB) do chuyên gia kinh tế Fabien Gonguet làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với một số đơn vị chức năng của Kiểm toán Nhà nước (KTNN) về việc triển khai đánh giá quản lý đầu tư công.

Về tình trạng chậm chễ trong triển khai đầu tư công, ông Ngô Văn Tạo - Phó Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành 4 cho biết, năm 2014 cả nước có 39.173 dự án đang thực hiện đầu tư, trong đó 17.638 dự án khởi công mới (16.750 dự án nhóm C chiếm 95%), 14.419 dự án kết thúc đầu tư đưa vào sử dụng.

Bên cạnh đó có 2.869 dự án chậm tiến độ, trong đó có 1.063 dự án chậm tiến độ do công tác giải phóng mặt bằng; 659 dự án chậm tiến độ do bố trí vốn không kịp thời; 248 dự án chậm tiến độ do năng lực chủ đầu tư, ban quản lý dự án và nhà thầu; 304 dự án chậm tiến độ do thủ tục đầu tư… còn lại là các nguyên nhân khác.

Qua kết quả kiểm toán các dự án đầu tư cho thấy công tác phê duyệt chủ trương đầu tư một số dự án chưa căn cứ theo kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 hoặc chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; chưa xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn. Một số đơn vị chưa lập, trình phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành theo quy định để làm căn cứ thẩm định, phê duyệt các dự án.

Vẫn còn tình trạng phê duyệt dự án khi chủ trương đầu tư chưa được phê duyệt, chưa đủ thủ tục, không phù hợp với quy hoạch vùng, không phù hợp với kế hoạch đầu tư hoặc trùng lắp với dự án khác đã được phê duyệt; quyết định đầu tư chưa xác định rõ nguồn vốn, thời gian thực hiện dự án; xác định tổng mức đầu tư còn sai sót, thiếu chính xác, phải điều chỉnh nhiều lần với giá trị lớn.

Một số dự án thực hiện đầu tư khi chưa có báo cáo đánh giá tác động môi trường; hồ sơ khảo sát còn chưa đầy đủ, thiếu chính xác, chưa phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình thiết kế.

Thiết kế kỹ thuật chưa tuân thủ thiết kế cơ sở hoặc chưa phù hợp với thực tế dẫn đến phải điều chỉnh trong quá trình thi công tại nhiều dự án; phê duyệt dự toán còn sai sót, có trường hợp tổng giá trị dự toán được duyệt vượt tổng mức đầu tư.

Tiến độ thực hiện một số dự án còn chậm so với kế hoạch ban đầu hoặc chậm được đưa vào sử dụng làm giảm hiệu quả nguồn vốn đầu tư.

Hồ sơ quản lý chất lượng công trình còn thiếu sót, không đầy đủ xảy ra ở hầu hết các dự án; công tác giám sát thi công ở một số dự án không chặt chẽ theo quy định; chủ đầu tư một số dự án không thực hiện chế độ báo cáo giám sát đầu tư; chất lượng thi công một số hạng mục chưa đảm bảo, có hiện tượng nhanh bị xuống cấp, hư hỏng…

Công tác nghiệm thu, thanh toán tại hầu hết các dự án còn sai sót; còn tình trạng nghiệm thu, thanh toán, quyết toán khối lượng chưa thi công hoặc không đúng thực tế… Qua kiểm toán 3 năm (2015, 2016, 2017), KTNN đã kiến nghị xử lý tài chính 24.561 tỉ đồng.

Về những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong quản lý dự án ODA, dự án PPP qua kết quả kiểm toán của KTNN, ông Tạo cho biết việc đấu thầu các dự án đầu tư, hầu hết các dự án PPP được chỉ định nhà đầu tư làm giảm tính cạnh tranh và tiềm ẩn rủi ro chọn phải nhà đầu tư không đủ năng lực.

74/75 dự án được chỉ định nhà đầu tư trong đó Bộ GTVT đã tham mưu trình Thanh tra Chính phủ chấp thuận chỉ định thầu 22 dự án ngoài quy định, lựa chọn một số nhà đầu tư chưa đảm bảo năng lực theo quy định.

Công tác lựa chọn nhà thầu đối với các dự án sử dụng vốn ODA còn bị hạn chế do bị ràng buộc bởi quy định của nhà tài trợ (quốc gia của nhà thầu, tỷ lệ hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia cho vay vốn…).

Hồ sơ mời thầu (hồ sơ yêu cầu) của một số dự án chưa đầy đủ theo quy định, một số hồ sơ mời thầu còn nêu rõ yêu cầu về nhãn hiệu, xuất xứ cụ thể của hàng hóa, tiên lượng không phù hợp với hồ sơ thiết kế; phê duyệt hồ sơ mời thầu, kế hoạch đấu thầu chưa đúng quy định; hồ sơ dự thầu (hồ sơ đề xuất) của một số nhà thầu chưa tuân thủ đầy đủ yêu cầu của hồ sơ mời thầu.

Quá trình chấm thầu vẫn còn sai sót; áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu không đúng quy định; công tác thương thảo, ký kết hợp đồng chưa đảm bảo theo quy định, một số điều khoản hợp đồng ký kết còn thiếu chặt chẽ.

Lam Thanh


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận0

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.