Các ngân hàng thương mại đã cung cấp thông tin tài khoản khách hàng cho ngành thuế?

Ngành thuế muốn ngân hàng cung cấp thông tin tài khoản khách hàng - Ảnh minh họa
Theo đại biểu Bùi Thị Quỳnh Thơ (Hà Tĩnh) thì thời gian qua, các ngân hàng thương mại đã cung cấp các thông tin về tài khoản doanh nghiệp, cá nhân nộp thuế cho cơ quan thuế khi có yêu cầu...

Quy định không phù hợp

Thảo luận về Luật Quản lý thuế (sửa đổi) tại Quốc hội, đại biểu Phạm Thị Thu Trang (Quảng Ngãi) cho rằng cần cân nhắc quy định ngân hàng thương mại (NHTM) cung cấp thông tin tài khoản của khách hàng là người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế bao gồm: thông tin về mở tài khoản, số tài khoản, cùng với mã số thuế của người nộp thuế, thông tin giao dịch, số dư tài khoản…

“Quy định như trên là chưa phù hợp vì yêu cầu bảo đảm bí mật thông tin khách hàng là nguyên tắc bảo mật thông tin của ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng”, bà Trang nói.

Theo đó, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho tổ chức, cá nhân khác trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và được sự chấp thuận của khách hàng.

Do vậy, đại biểu này cho rằng cần có sự hài hòa giữa 2 quy định này để không làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động của ngân hàng, để tránh lạm dụng trong việc yêu cầu cung cấp thông tin dẫn đến ngân hàng vi phạm pháp luật.

Trong khi đó, đại biểu Bùi Thị QuỳnhThơ (Hà Tĩnh) lại cho biết, thời gian qua các NHTM đã cung cấp các thông tin về tài khoản doanh nghiệp, cá nhân nộp thuế cho cơ quan thuế khi có yêu cầu. Tuy nhiên, trong thực tế, một cá nhân có thể có nhiều tài khoản khác nhau, nếu như không kiểm soát chặt chẽ các tài khoản này có thể gây thất thu thuế.

Đồng thời theo bà Trang, các ngân hàng với xu thế cạnh tranh, để đảm bảo bí mật khách hàng nhiều khi cũng không cung cấp hết các thông tin về tài khoản của khách hàng cho cơ quan thuế. Vì vậy, cần có sự vào cuộc và phối hợp giữa chính quyền các cấp, các ngành để hỗ trợ cơ quan thuế khai thác các khoản thu vào ngân sách nhà nước một cách cao nhất.

Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng bình luận, vấn đề tài khoản ngân hàng, luật hiện hành cũng quy định và theo luật mẫu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), cũng như các nước trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) khuyến nghị Việt Nam phải có chế tài về việc này, nhất là trong điều kiện đang phát triển giao dịch điện tử cũng như thương mại qua biên giới.

“Ngân hàng là cổng thanh toán ra nước ngoài, không quản lý là không được. Chưa nói là kinh tế, trong nội bộ kinh tế của chúng ta vẫn đang là kinh tế tiền mặt. Có rất nhiều vấn đề phải xem xét xử lý không thì rất khó. Cho nên phải rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan, trong đó có ngân hàng”, ông Dũng nói.

Có nguy cơ áp dụng tùy tiện

Trong khi đó, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng dự thảo chưa bảo đảm tính minh bạch khi không rõ trong các trường hợp nào thì cơ quan quản lý thuế có quyền yêu cầu NHTM cung cấp các thông tin này và căn cứ vào nhu cầu quản lý nhà nước cụ thể là gì.

“Nếu quy định mở như hiện nay thì có khả năng hiểu theo nhiều cách khác nhau, việc áp dụng trên thực tế có thể rất tùy tiện”, VCCI nêu.

Bên cạnh đó, quan hệ giữa NHTM và người nộp thuế là quan hệ dân sự. Khi ký kết hợp đồng, NHTM cần phải cho khách hàng của mình biết các trường hợp thông tin của họ sẽ được cung cấp cho bên thứ ba. Các trường hợp này cần phải hợp lý và rõ ràng để bảo đảm quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức và bảo đảm NHTM không phải chịu gánh nặng tuân thủ yêu cầu này của cơ quan quản lý thuế.

“Không hiểu tại sao cơ quan quản lý thuế lại yêu cầu NHTM cung cấp thông tin mã số thuế khách hàng trong khi đây là cơ quan chủ quản? Không phải trong mọi người hợp khách hàng của NHTM cũng có mã số thuế, do đó yêu cầu như vậy là không bảo đảm tính khả thi”, VCCI nêu.

Tương tự với quy định: ”Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác liên quan đến người nộp thuế có trách nhiệm cung cấp thông tin bằng văn bản hoặc dữ liệu điện tử liên quan về người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế”, VCCI cho rằng cần có giới hạn cụ thể các loại thông tin này.

Về quy định phải “trích tiền để nộp thuế từ tài khoản của người nộp thuế, phong tỏa tài khoản của người nộp thuế bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế”, VCCI đề xuất ban soạn thảo bổ sung các trường hợp mà các ngân hàng thương mại được loại trừ trách nhiệm, thống nhất với quy định của pháp luật ngân hàng.

VCCI cũng đề xuất chỉnh sửa quy định “trường hợp người nộp thuế có bảo lãnh nhưng người nộp thuế không nộp thuế, tiền chậm nộp…đúng thời hạn quy định thì NHTM là đơn vị bảo lãnh phải chịu trách nhiệm nộp thuế… đúng thời hạn quy định thay cho người nộp thuế”.

Theo đó, xuất phát từ nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước thì các tổ chức tín dụng chỉ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nếu yêu cầu thực hiện bảo lãnh nằm trong thời hạn thực hiện bảo lãnh theo chứng thư bảo lãnh; số tiền bảo lãnh nằm trong số tiền bảo lãnh theo chứng thư bảo lãnh.

Do vậy, VCCI đề xuất ban soạn thảo xem xét và chỉnh sửa để thể hiện đúng bản chất của bảo lãnh thuế - dưới góc độ là nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng, theo hướng NHTM bảo lãnh trong phạm vi hợp đồng bảo lãnh. Đồng thời cơ quan thuế phải thông báo cho ngân hàng để ngân hàng biết và đối chiếu với chứng thư bảo lãnh đã cấp để thực hiện, hoặc có giải trình phù hợp với khách hàng.

Lam Thanh


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận0

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.