Viết sử và đọc sử

Kỳ 2 : Sự 'hèn nhát' vĩ đại

Trong các bộ chính sử nước ta, có không ít những ghi chép gây tranh cãi, nhưng tốn nhiều giấy mực tranh cãi nhất có lẽ là những ghi chép về nhà Mạc.

Kỳ 1: Vua không xem quốc sử

Đại Việt sử ký toàn thư phần liên quan đến nhà Mạc, do các sử gia Lê – Trịnh viết, đã không đưa nhà Mạc thành một Kỷ riêng mà chỉ ghép làm một phần phụ của nhà Lê trung hưng, coi nhà Mạc là “ngụy” tiếm quyền. Các sách khác như Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú… khi đề cập đến nhà Mạc cũng dùng những lời lẽ không mấy tốt đẹp. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ, có thể thấy ĐVSKTT và các bộ sử nói trên vẫn ghi nhận tương đối khách quan một số việc làm của nhà Mạc đối với đất nước. Riêng cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim thì chê bai nhà Mạc cực kỳ thậm tệ và lược bỏ hết những việc làm tích cực của nhà Mạc, trừ bản di chúc của Mạc Ngọc Liễn mà chúng tôi sẽ đề cập ở phần dưới.

Ông Trần Trọng Kim viết về Mạc Đăng Dung : “Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn-ở của loài người, là không có nhân-phẩm; một người như thế ai mà kính phục? Cho nên dẫu có lấy được giang-sơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh-vực mặc lòng, một cái cơ-nghiệp dựng lên bởi sự gian-ác hèn-hạ như thế, thì không bao giờ bền-chặt được”.

Việt Nam sử lược là cuốn sử đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ. Trước đó, tất cả các bộ sử đều được viết bằng chữ Hán (cũng có cuốn viết bằng chữ Nôm như Đại Nam quốc sử diễn ca, nhưng cuốn này chỉ nêu sự kiện và nhân vật, không có nhiều chi tiết). Số đông người Việt chúng ta trong thế kỷ 20 đều biết lịch sử dân tộc từ cuốn sử bằng chữ quốc ngữ này. Một thời gian dài cuốn sách được dùng làm sách giáo khoa hoặc dựa vào đó để viết sách giáo khoa lịch sử.

Khoảng vài chục năm gần đây, một số nhà sử học đã thu thập tài liệu trong và ngoài nước và đánh giá lại nhà Mạc, thẳng thắn và có sức thuyết phục nhất là ý kiến của giáo sư Trần Quốc Vượng. Tuy vậy, những đánh giá khách quan này chỉ được công bố tại các cuộc hội thảo và đăng lẻ tẻ trên các phương tiện truyền thông, không đủ lấn át sự ảnh hưởng rộng lớn và sâu đậm của Việt Nam sử lược. Đến nỗi, gần đây chính quyền thành phố Hà Nội đã lấy hai vị vua Mạc đặt tên cho hai con đường của Thủ đô, nhưng trước khi quyết định vẫn vấp phải sự phản đối của một “nhà sử học” có tên tuổi đối với trường hợp Mạc Đăng Dung.

Tôi bắt đầu nghĩ khác về nhà Mạc khi thầy dạy sử của tôi ở Trường Đại học tổng hợp Huế nói vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước : “Thời nhà Mạc, nước ta đã bỏ ngăn sông cấm chợ”. Tôi nhớ mãi câu nói này, vì trước đó tôi học trường Sĩ quan chính trị ở Bắc Ninh, anh bạn cùng lớp mỗi khi đi phép bao giờ cũng tranh thủ mang một ba lô khoai tây từ Hà Nội về Đà Nẵng bán kiếm được một khoản chênh lệch kha khá. Cả nước lúc đó ngăn sông cấm chợ, đến nỗi chúng tôi không dám nhắc tới việc bạn mình đã “buôn lậu” mấy ki-lô khoai tây, còn Bí thư Thành ủy TP.HCM Võ Văn Kiệt lúc bấy giờ phải bật đèn xanh xé rào cho bà Ba Thi “buôn lậu” đưa lúa gạo về thành phố bán cho dân để cứu đói với lời bảo đảm “Nếu chị đi tù, tôi sẽ đưa cơm”. Sau này khi nghĩ đến công cuộc đổi mới, tôi lại nghĩ đến nhà Mạc. Gần 500 năm trước, cha con ông Mạc Đăng Dung đã thực hiện những chính sách kinh tế mà ngày nay chúng ta phải thử nghiệm, phải xé rào, phải vượt qua biết bao gian truân mướt mồ hôi sôi nước mắt mới làm được, đó là các chính sách của công cuộc đổi mới.

Không chỉ xóa ngăn sông cấm chợ, các vua Mạc còn khuyến khích phát triển chợ búa, khuyến khích giao thương với nước ngoài. Nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trở thành sản xuất hàng hóa, các sản phẩm hàng hóa này được giao thương với hàng chục nước trên thế giới (có tài liệu ghi 28 nước).

Dù coi nhà Mạc là “ngụy”, nhưng ĐVSKTT vẫn phải chép : “Họ Mạc ra lệnh cấm người các xứ trong ngoài cầm giáo mác và dao nhọn. Ai vi phạm thì cho phép ty bắt giữ. Từ đấy, người buôn bán và kẻ đi đường đều đi tay không, ban đêm không còn trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ cần mỗi tháng xem lại một lần, có khi sinh đẻ cũng không biết được là gia súc nhà mình. Trong khoảng vài năm, người đi đường không nhặt của rơi, cổng ngoài không phải đóng, được mùa liên tiếp, trong cõi tạm yên”.

Giáo sư Trần Quốc Vượng nhận xét : ““Sau khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung đã chấm dứt thời kỳ “ức thương”, mở rộng giao thương với nước ngoài. Ông đề cao hoạt động thương mại, và thực sự đã có nhiều chính sách mới mẻ. Minh chứng cụ thể là đồ gốm sứ trở thành mặt hàng được nhiều nước mua. Hiện nay, đồ gốm sừ thời Mạc có mặt ở bảo tàng nhiều nước: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc,…và con tàu đắm ở Cù lao Chàm mới được tìm thấy có rất nhiều đồ gốm sứ thời này. Điều đáng nói là các sản phẩm gốm sứ thời Mạc đều có khắc tên người làm, địa chỉ xưởng sản xuất và nơi cung tiến. Tôi cho rằng, nếu nhà Mạc tiếp tục tồn tại và phát triển, Việt Nam có thể đã có một cuộc cải cách giống như thời Minh Trị của Nhật Bản, nhưng từ rất sớm” (Trích bài trả lời phỏng vấn báo SGGP, 6-11-2004)

Việc Mạc Đăng Dung “cướp ngôi” nhà Lê đã mục nát khi ấy là hợp quy luật, ngày nay không có gì phải tranh cãi, nhưng sự kiện gây tranh cãi nhiều nhất là việc ông quỳ gối đầu hàng nhà Minh. ĐVSKTT chép : “Mùa đông, tháng 11 (năm 1540), Mạc Đăng Dung cùng với cháu là Văn Minh và bề tôi (…) qua trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân không đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử, dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu. Lại xin ban chính sóc, cho ấn chương, để kính cẩn coi giữ việc nước…”.

Sở dĩ có việc “đầu hàng” này là do trước đó đám quân thần nhà Lê vừa “trung hung” sang tố cáo và rước quân Minh về. Lợi dụng “lời mời” này, nhà Minh đã cử Cừu Loan và Mao Bá Ôn đem đại quân sang “hỏi tội”. Đất nước đối mặt với họa xâm lăng từ phương Bắc. Khác với bối cảnh cuộc kháng chiến chống Tống thời Lê Hoàn và cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông thời Trần, Mạc Đăng Dung không đủ sức vừa đối phó với nội chiến bên trong vừa chống xâm lược bên ngoài. Ông buộc phải chọn cách chịu nhục để giữ nước. Nếu đánh thì chắc chắn ông không thắng được giặc, ông có thể tuẫn tiết như một anh hùng nhưng dân tộc phải bị dày xéo dưới ách quân xâm lược. Còn việc ông “dâng đất” cho giặc thì sao ? Những khảo cứu sau này cho thấy, những cái động ông dâng cho nhà Minh là “dâng khống”, biên giới lúc ấy không rõ ràng, các tù trưởng khi thì theo bên này khi thì theo bên kia và trong thực tế những vùng này không do ta quản. Đầu hàng giả, dâng đất khống, chịu nhục với sử sách để bảo vệ độc lập thật cho đất nước, Mạc Đăng Dung là hèn nhát hay vĩ đại ? Câu trả lời còn tùy vào những cách nhìn, tùy vào cách đọc lịch sử. Đối với tôi, nếu gọi ông là “hèn nhát” thì sự “hèn nhát” đó cũng thật là vĩ đại.

Cuối cùng, sau khi nhà Mạc bị quan quân Lê-Trịnh truy cùng giết tận, con cháu họ Mạc nhiều người phải đổi họ để sinh tồn, một số phải lánh nạn sang Trung Quốc, nhưng trước sau nhà Mạc không nhờ vả ngoại bang, càng không rước ngoại bang về dày xéo quê hương. Sự nhất quán đó thể hiện ở lời di chúc của Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn dặn vua Mạc Kính Cung trước khi lâm chung : “Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời. Dân ta là dân vô tội mà để phải mắc nạn binh đao, sao lại nỡ thế ! Bọn ta nên tránh ra ở nước khác, chứa nuôi uy sức, chịu khuất đợi thời, xem khi nào mệnh trời trở lại mới có thể làm được. Rất không nên lấy sức chọi sức, hai con hổ tranh nhau tất có một con bị thương, không được việc gì. Nếu thấy quân họ đến thì ta nên tránh, chớ có đánh nhau, nên cẩn thận mà giữ là hơn. Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng” (ĐVSKTT).

Có lần gặp thiền sư Lê Mạnh Thát, tôi hỏi ông đánh giá như thế nào về nhà Mạc, ông bảo hãy nhìn ông Nguyễn Bình Khiêm, dù học rộng tài cao nhưng dứt khoát không chịu đi thi dưới triều Lê bấy giờ đã ruỗng nát, ông chỉ đi thi khi nhà Mạc lên thay, lúc đã hơn 40 tuổi và làm quan cho nhà Mạc. “Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là hình ảnh của nhà Mạc”, thầy Lê Mạnh Thát nói. (còn tiếp)

Hoàng Hải Vân

Ảnh: Mạc Đăng Dung trong buổi gặp sứ nhà Minh (lấy từ An Nam lai uy đồ sách)


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận9

  • Nguyễn Thanh HoaReply

    11-5-2017 03:30:03

    Tôi cũng như nhiều vị đã qua cái thời đi học trước đây được nhồi sọ nhiều thứ. Xin cảm ơn motthegioi.vn đã có những tư liệu tuyệt vời để mở mang trí tuệ cho đồng bào. Quan điểm của tôi là "Hãy nhìn vào thực tế những cái mà các bậc tiền nhân ấy đã làm cho dân, cho nước, chứ đừng nghĩ đến họ phải có trách nhiệm trung thành với những triều đại đã tận suy mục nát, thối ruỗng". Xin thưa với một số anh hùng bàn phím rằng: Các vị cho là mình có học, hẳn các vị nhớ câu bất hủ của Nguyễn Công Trứ "Phận làm trai đứng trong trời đất - Phải có danh gì với núi sông", các vị cứ đặt địa vị mình vào vị trí của Mặc Đăng Dung xem các vị sẽ làm gì. Tất nhiên là nhân vô thập toàn, ai cũng có thể có những sai lầm, nhưng cứ đọc kỹ những dữ liệu mà qua đó thể hiện được chí khí của nhà Mạc - tình thương dân của họ thì mới thấm thía được, còn hiện nay chúng ta đâu có biết rõ ràng những sự việc chi tiết, những thâm cung bí sử của thời đó đâu mà cao giọng dạy đời, nhận xét tội trạng của các bậc tiền nhân.

  • zaiReply

    26-2-2017 03:02:55

    Thiên hạ là của người thiên hạ, ai có đức thì được. Các triều đại phong kiến Trung Quốc cũng như Việt Nam đều thế cả. Vua thất đức tất phải mất nước vào tay kẻ khác. Việc trung quân được đề cao từ thời ông Khổng tử mà thôi. Chu Văn Vương được khen là người có đức thì cha con ông mưu toan đoạt thiên hạ từ tay Trụ Vương từ lâu rồi. Miễn là sau jgi có thiên hạ cần làm cho dân sướng hơn. Nhà lý có lấy ngôi của triều đại trước không, nhà Trẫn có lập mưu lấy ngôi nhà lý không, ngay cả đến khi cách mạng tháng tám thì cụ Hồ có lấy ngôi nhà Nguyễn không. Cho nên việc đúng sai là nhìn theo quan điểm nào thôi. Nếu theo nho giáo thì cướp ngôi là sai, nhưng dưới con mắt bình dân thì giải thoát cho dân khỏi cảnh đau khổ do triều đại thống trị đã thối nát thì không sai. Người chép sử đúng ra chỉ chép đúng sự việc diễn ra, lời bình của ai đều được ghi rõ ràng chứ người chép sử không được sen ý mình thì mới trung thực được. Với cách nhìn của thế kỷ hai môt mà viết lại sử thì không nên nà chỉ được bình thôi. Nếu không thì đến thế kỷ sau con cháu ta lại noi gương viết lại sử mất.

  • Nguyễn ĐứcReply

    02-1-2017 02:08:51

    Chỉ riêng vấn đề Mạc Đăng Dung xin đổi tên nước thành "Ty đô thống sứ An Nam" trực thuộc "Quảng Nam tây lộ" (tỉnh Quảng Tây) đã là tội Trời không dung đất không tha rồi.

  • MinhReply

    25-4-2016 10:04:47

    Việc dâng đất cho nhà Minh có thực không thì còn cần xem xét tranh luận nhưng việc nhà Mạc không chịu quỵ lụy ngoại bang để chống lại các thế lực khác rõ ràng là hơn vạn lần những vua của những triều đại gọi là chính thống khác như Lê Chiêu Thống hay Gia Long.

  • Trần tiến DânReply

    24-4-2016 08:02:44

    Bạn nào cho mình xin đường link của kì 1 với

  • Công DânReply

    24-4-2016 10:44:09

    Cho tới thời điểm Mạc Đăng Dung tự lập làm vua thì đất nước đã trải qua vài chục năm hỗn loạn. Thăng Long nhiều lần bị đốt phá, đổi chủ. Đã có vua chết danh là Vua Quỷ, hoặc Vua Lợn, Các ngôi sao quyền lực cũng nhanh chóng gặp kết cục sát thân. Bản thân Mạc Đăng Dung cũng từng là đối tượng mưu sát của nhà vua mặc dù đã đắc lực dẹp loạn, vậy ông đâu còn đường lùi nữa. Có những sự thối nát chỉ có thể thay đổi bằng cách dẹp bỏ chứ không thể sửa chữa. Về việc hưng binh của Nguyễn Kim, xin đánh giá qua hai việc: Một là lập vua Trang Tông (chúa Chổm)con vua Chiêu Tông. Thực tế hai vị này chỉ cách nhau 08 tuổi, không thể là cha con được. Ông Kim rõ ràng đã không có ý tìm hậu duệ thực của vua Lê mà chỉ tìm một kẻ du thủ du thực bất hảo để tiện cho mục đích của mình. Đất nước đã tạm yên bình, bởi thế, lại bắt đầu động loạn. Hai là ông có cho người Trung Quốc tố cáo nhà Mạc và tìm kiếm sự giúp đỡ. Việc này rõ ràng đã gây nên sự uy hiếp của thiên triều đối với tổ quốc, rất đáng phê phán. Về vấn đề biên giới. Thực chất, vùng đệm bao la giữa tộc Kinh và tộc Hán là địa bàn cư trú các dân tộc thiểu số. Để được yên thân, họ phải giữ một sự thuần phục hình thức đối với bên này, hay bên kia, hay cả hai bên, tùy theo mức độ và khả năng uy hiếp. Chính quyền trung ương đặt tên cho địa bàn của họ cho tiện sổ sách thôi. Mãi tới giữa thế kỷ 20 vẫn còn để hình thức khu tự trị ở Việt Bắc và Tây Bắc thì biết rồi đấy. Việc năm động (làng) chuyển qua bên kia thời đó cũng bình thường thôi, biên giới còn dịch chuyển nhiều lần qua hàng trăm năm nay, đó là vận động bình thường của lịch sử. Chẳng nên áp dụng cái nhìn của thời đại kỹ thuật để đo đạc biên giới thời xưa, nhất là khi bạn còn chưa biết những đia danh đó nếu có thực thì đất đó giờ là đâu. Nói thêm về cuốn sách Việt Nam Sử Lược, trong đó phê phán triều Mạc rất gay gắt. Nhiều người coi nó là cuốn sách lịch sử chuẩn mực. Thực tế với lối hành văn hấp dẫn, các sử liệu đưa ra có vẻ rõ ràng chi tiết mặc dù chẳng có nguồn, với quan điểm rất đề cao khả năng của Người Việt nên nó làm cho người đọc cảm thấy sung sướng và tin theo. Ngày nay, người Việt nên có cái nhìn tỉnh táo về lịch sử, về khả năng của dân tộc mình thì mới mong thay đổi được. Còn cứ tự sướng nhờ những thứ đại loại như Việt Nam Sử Lược, bỏ qua những tài liệu có tính khách quan, khoa học hơn thì mong gì có thay đổi. Ông Kim, loay hoay như gà mắc tóc giữa thời điểm rối ren của lịch sử, rồi cũng chết bất đắc kỳ tử bởi chưa thoát nổi chữ danh, chỉ có thuật nâng hay dìm của của ông xứng là cao thủ.

  • Nguyễn HuyReply

    23-4-2016 11:44:00

    Mạc Đăng Dung không noi gương Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Nguyễn Xí phò vua dẹp loạn mà đi giết vua cướp ngôi. Mần họa diệt vong nằm ở chỗ đó. Nguyễn Kim trung hưng họ Lê là sai thì Mạc Đăng Dung giết vua cướp ngôi là đúng ư ? Đem cái lẽ đúng sai thời hiện đại áp đặt cho một bối cảnh hoàn toàn khác biệt thời xưa là việc quá miễn cưỡng. Việc Mạc Đăng Dung trói mình quỳ gối ở biên giới để tránh chiến tranh là việc làm đáng thông cảm. Nhưng mà dùng từ "vĩ đại" thì có vẻ quá lố rồi.

    • Hoàng NamReply

      23-4-2016 05:40:17

      Tôi hoàn toàn tán thành với sự phân tích của tác giả. Hoan nghênh báo Một Thế Giới có chuyên mục Bàn tròn lịch sử và đăng những bài viết sâu sắc như thế này !

  • thien khaiReply

    23-4-2016 09:48:26

    Tác giả bài báo có ý muốn "bênh vực" cho triều Mạc. Điều đó không có gì sai, nhưng lịch sử là khoa học chứ không phải cảm tính "yêu, ghét". Việc "bênh vực" dựa vào cảm xúc "vì bỏ ngăn sông cấm chợ" liệu có là chứng cứ khoa học? Hơn nữa, "ngăn sông cấm chợ" là sản phẩm của thời bao cấp hiện đại chứ không phải đặc trưng của nền kinh tế VN dưới các triều đại phong kiến ! Về tội "cắt đất, bán nước" của nhà Mạc, tác giả cũng mới chỉ đưa được ra biện luận rằng đây là "đất khống" chứ chưa có chứng cứ thuyết phục. Các nhà sử học của ta vẫn căn cứ vào tài liệu chính thống (điều chưa hẳn đã hoàn toàn chuẩn xác) nhưng trong trường hợp này thì lại "biện hộ" cho nhà Mạc bằng những căn cứ không chính thống? Nếu các sử gia đời Lê-Trịnh nói "xấu" nhà Mạc thì còn dễ hiểu, nhưng Tràn Trọng Kim, một trí thức đời sau, chẳng liên quan gì đến Lê-Trịnh lại "đồng quan điểm" thì giải thích ra sao? Tất cả những vấn đề như thế cần được l;àm sáng tỏ để đi đến kết luận có tính khoa học, khách quan chứ không thể "vun vào" hay "cào ra" chỉ bởi tình cảm yêu ghét !

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.