Bài cuối: Triệu Đà và nhà Triệu trong câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hồ Chủ tịch làm việc tại chiến khu Việt Bắc - Ảnh: Tư liệu
Trang 266, tập 3 "Hồ Chí Minh toàn tập", Hồ Chủ tịch đã nhắc đến nước Nam Việt khi khẳng định: "Mai sau sự nghiệp hoàn thành/Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng".

Triệu Đà, cách nhìn qua các thời kỳ: Nỏ thần trao tay giặc?Ngàn năm đô hộ giặc Tàu: Góc nhìn về Triệu Đà, lịch sử cũng... chia phe

Triệu Đà và cuộc bút chiến giữa hai học giả Phan Khôi-Trần Trọng Kim

Quan điểm đa chiều về Triệu Đà tại miền Nam trước 1975

Vai trò của Triệu Đà trong quan niệm 'lịch sử duy vật' của Đào Duy Anh

'Tứ trụ sử học' Việt Nam đồng nhất quan điểm về Triệu Đà

Trọng Thủy con Triệu Đà: Bên trọng bên khinh và câu thơ 'chốt hạ' của Tố Hữu

Nhà Triệu từng 'hùng cứ một phương' trong Bình Ngô đại cáo rồi bị 'trục xuất'

Nhà Triệu từ mất 'sổ đỏ' đến 3 lần bị bêu tội trên SGK dạy sử hiện nay

Triệu Đà trong mắt các vị anh hùng dân tộc

Trong một vài số trước, chúng tôi đã có dịp nhắc về Triệu Đà trong bài trường thi lịch sử Đại Nam quốc sử diễn ca. Đó là phần nói về nhà Triệu trong đoạn 3. Xin ghi lại 4 câu đầu như sau:

Triệu Vương thay nối ngôi trời,

Định đô cứ hiểm đóng ngoài Phiên ngu (hay còn là Phiên Ngung).

Loạn Tần gặp lúc Ngư Hồ,

Trời nam riêng mở dư đồ một phương...

Về quy mô thì bản đầu của Đại Nam quốc sử diễn ca do Lê Ngô Cát viết có 3.774 câu, được án sát tỉnh Bình Định Phạm Đình Toái chỉnh lại như chúng ta hay đọc ngày nay là 2.054 câu. Để dễ so sánh thì chúng ta nên nhớ truyện Kiều của Nguyễn Du là 3.254 câu viết theo thể lục bát, bài Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều 356 câu theo thể song thất lục bát, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn 476 câu theo thể song thất lục bát...

Dùng thơ để kể lại lịch sử càng về sau đã thành một trào lưu. Có thể kể đến cuốn Việt sử thông lãm của Vũ Huy Chân xuất bản năm 1973 được viết theo dạng song thất lục bát. Trong đó, ông Chân cũng ca ngợi nhà Triệu như sau:

Đến đời Triệu, nước kêu Nam Việt

Vua Vũ vương oanh liệt một thời

Kiêu căng vốn sẵn tính trời

Dọc ngang nào biết trên đời có ai

Hay

Triệu vương giận xưng hoàng đế hiệu

Rồi đem quân vào nhiễu Trung Hoa

Trước vương phá quận Trường Sa

Sau bình giặc Hán sang ta báo thù...

Hay cuốn Quốc sử ngâm tổng lược gồm 100 câu của Huấn đạo Nguyễn Tống San viết năm 1938. Trong đó phần nhà Triệu có ghi:

Đến Võ vương dựng liền nhà Triệu

Chín sáu năm lo liệu mở mang

Phiên Ngung đóng quận vẻ vang

Đến năm Kiến Đức chuyển giang san Tàu.

Nhưng nếu nói về độ dài thì Đại Nam quốc sử diễn ca vẫn phải lép vế trước một bộ sử diễn ca hồi cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18 là Thiên nam ngữ lục. Đây là tác phẩm Nôm có dung lượng lớn nhất, gồm 8.136 câu thơ lục bát, có xen 31 bài thơ chữ Hán và hai bài thơ chữ Nôm được viết theo thể thất ngôn bát cú. Bài này cũng ca ngợi nhà Triệu như sau:

Non sâu, hang trất ai ai

Ống cơm bầu nước theo đòi chúa Thang

Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng

Chín lần xem trị, bốn phương đẹp lòng

Rồi kỷ lục đó vừa bị phá vào năm 2009 do có 2 tác giả Hồ Đắc Duy, Nguyễn Bá Triệu viết Đại Việt sử lược diễn ca với số câu thơ lên đến hơn 8.500 câu theo thể thức song thất lục bát. Bài này cũng có những câu ca ngợi nhà Triệu như sau:

Nam Việt vương Triệu Đà xưng đế

Mậu Ngọ niên làm lễ lên ngôi

Giang sơn hùng cứ một thời

Cất quân chiếm lấy đất ngoài Trường Sa...

Nhắc đến các bài thơ trường ca kể về lịch sử đất nước thì không thể không nhắc đến tác phẩm Lịch sử nước ta được Chủ tịch Hồ Chí Minh biên soạn vào năm 1941 dùng làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở chiến khu và tuyên truyền trong nhân dân để giáo dục truyền thống yêu nước, và tác phẩm này được xuất bản vào tháng 2.1942.

Về độ dài thì tác phẩm nói trên chỉ hơn 200 câu kể sử nước ta từ thời dựng nước Hồng Bàng cho đến Việt Minh. Độ dài này vừa đủ để mọi người học thuộc theo đúng tinh thần “Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

Tuy nhiên, độ dài chính xác của bài thơ này thì lại là một vấn đề đáng bàn. Theo bản chép ở Hồ Chí Minh toàn tập, từ trang 259 đến 266, tập 3 trong bộ 15 tập xuất bản năm 2011 thì chỉ chép có 208 câu.

Tuy nhiên, trong tập 9 của bộ 15 tập Lịch sử Việt Nam do Viện Sử học thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam vừa in năm 2014 lại có đoạn khẳng định bài Lịch sử nước ta của Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chủ tịch) có 210 câu. Như vậy thì bản chép trong Hồ Chí Minh toàn tập có thể thất lạc mất 2 câu chăng?

Đọc lại Lịch sử nước ta trong Hồ Chí Minh toàn tập chúng ta thấy "có vấn đề" ở câu 13.

11 An Dương Vương thế Hùng Vương,

12 Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.

13 Nước Tàu cậy thế đông người,

14 Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam.

Có vấn đề là bởi gieo vần không chuẩn trong khi Hồ Chủ tịch khi làm thơ thường gieo vần rất chính xác. Vấn đề thứ hai là vắng Triệu Đà trong khi tất cả các bài sử diễn ca mà chúng tôi nêu trên thì những nhà tóm tắt sử trong thơ, dù ngắn 100 câu như Quốc sử ngâm tổng lược hay dài như Đại Việt sử lược diễn ca đều nói đến nhà Triệu.

Chúng tôi đã tìm trong cuốn Nhà Triệu, mấy vấn đề lịch sử do Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản năm 2017 có nêu bản thảo viết tay của Hồ Chủ tịch, trong đó nhắc đến 2 câu thơ về Triệu Đà trong bài Lịch sử nước ta. Điều đặc biệt là khi ghép vào thì khớp vần một cách hoàn hảo như sau:

11 An Dương Vương thế Hùng Vương,

12 Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.

13 Triệu Đà là vị hiền quân,

14 Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.

15 Nước Tàu cậy thế đông người,

16 Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam.

Về sự tồn tại của câu "Triệu Đà là vị hiền quân" thì chúng tôi có thêm sự xác tín của nhà sử học Trần Quốc Vượng. Trong cuốn sách Trên mảnh đất nghìn năm văn vật thuộc dự án sách kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội do NXB Hà Nội in năm 2009, trang 233, xin trích câu chuyện như sau:

Khi tôi (tức GS Trần Quốc Vượng) với tư cách là một trong những người phụ trách Câu lạc bộ làng nghề truyền thống Việt Nam tới làng Đồng Sâm, Thái Bình - làng có nghề chạm bạc vàng truyền thống, làng tương truyền là quê vợ Triệu Đà thì tôi thấy một ngôi đền rất to, ngoài tam quan ghi “Nam Việt Triệu Tổ”, ở đây dân Thái Bình chỉ biết Triệu Đà, chứ không/ít biết chuyện Vua Hùng của vùng Phú Thọ đất Tổ.

Và Lê Văn Hưu - ông tổ nền Sử ký nước Việt cũng chỉ viết Sử Đại Việt từ “Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu Hoàng”. Và Nguyễn Trãi Bình Ngô Đại Cáo cũng viết:

“Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần triệu tạo ngã quốc” (Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước ta), để có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau (bắt buộc hay tự nguyện) mà một vài tác giả của sử học mác xít đã tự ý bỏ đi chữ Triệu, làm sai lạc quy tắc văn bản học (textologic)? Thế Bác Hồ trong tác phẩm để đời Việt Nam quốc sử diễn ca (tức Lịch sử nước ta) viết rằng:

"Triệu Đà là đấng hiền quân"

thì liệu giới sử học mác xít nước ta có bao giờ dám phê Bác là “mất lập trường sử học mác xít” hay không?” (hết trích).

Cũng xin giới thiệu rằng Trên mảnh đất nghìn năm văn vật là tác phẩm rất tâm huyết của Giáo sư Trần Quốc Vượng, từng được báo Nhân dân có bài đánh giá rất cao: “Người đọc tiếp tục khám phá nét truyền thống, hiện đại, tinh hoa từ nghìn xưa với công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa hôm nay của Hà Nội; Hà Nội - Việt Nam và 1.000 năm giao thoa văn hóa Đông - Tây, Nam - Bắc dưới góc nhìn lý luận và thực tiễn; những suy nghĩ tản mạn nhân đọc lại bài Chiếu dời đô của Vua Lý Công Uẩn; Cổ pháp - Thiên Đức - Kinh Bắc - quê hương nhà Lý. Mỗi trang của cuốn sách đều chất chứa, thấm đượm tình yêu Hà Nội tha thiết, cháy bỏng với những khám phá, phát hiện bất ngờ của người nghiên cứu”.

Phần trang 233 trong cuốn Trên mảnh đất nghìn năm văn vật chính là đoạn trong chương 12: “Vài suy nghĩ tản mạn nhân đọc lại bài Chiếu về việc dời đô của vị vua sáng nghiệp triều Lý” do báo Nhân dân giới thiệu.

Còn về câu “Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời” thì chúng tôi đã tìm thấy một chi tiết quan trọng từ chính trong trang 266 của tập 3 Hồ Chí Minh toàn tập. Đó là câu gần áp chót mà Hồ Chủ tịch khẳng định:

Mai sau sự nghiệp hoàn thành

Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng.

Điểm lại lịch sử các triều đại trên nước ta thì chỉ duy nhất nhà Triệu dùng quốc danh là Nam Việt còn các triều đại khác đều chỉ dùng Vạn Xuân,Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu, Đại Nam... trước khi dùng Việt Nam mà thôi. Nếu Hồ Chủ tịch đã khẳng định “Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng” thì chắc chúng ta đều hiểu thái độ của tác giả đối với triều đại trên nước ta dùng quốc danh Nam Việt.

Anh Tú


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận3

  • David Big3BuReply

    22-9-2019 01:25:02

    TQ thừa nhận Thành Cát Tư Hãn trong lịch sử, bởi nhờ ông mà giang san được mở rộng. VN trong lịch sử cũng có Triệu Đà nhưng tư duy lại khác...

  • Nguyễn Văn ThườngReply

    31-7-2019 10:49:11

    Tôi là cán bộ KHKT đã nghỉ hưu và thích đọc sách sử. Rất mong được các nhà nghiên cứu lịch sử nước ta cho biết thông tin liên quan 4 vị vua còn lại của triều đại nhà Triệu ? Theo câu 13 và 14 trong bài Lịch sử nước ta' của Bác thì nhà Triệu trị dân 5 đời. Cuốn 'Hội kín xứ An Nam' (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2019) dịch từ sách của Georges Coulet xuất bản năm 1926, phần 'Danh mục danh xưng' tại trang 453 có chú giải: 'TRIỆU - Triều đại gồm 5 đời vua trị vì ngai vàng An Nam từ năm 207 TCN đến năm 111 TCN'. Trân trọng cảm ơn !

  • Bụn Bo HuệReply

    28-7-2019 03:13:03

    Là người dân, Tôi cực kỳ tâm đắc về loạt bài viết về Triệu Đà của tác giả Anh Tú của Quý báo Một Thế Giới. Tôi cũng hoàn toàn ủng hộ về một 'Lập trường'; nhìn nhận Triệu Đà là một vị Vua khai sáng của nước Việt Nam ta như Bác Hồ đã ghi nhận. Một trong những nguyên nhân các cháu học sinh của ta hiện nay học sử kém, thậm chí không muốn học là: Lịch sử nhưng không thật là Lịch sử. Nó pha trộn, thêm bớt, sửa đổi theo ý chí của một số người, thậm chí huyền sử đè lên lịch sử, làm cho Lịch sử mơ hồ, huyền hoặc. Làm gì có chuyện 'Mẹ Âu Cơ đẻ trăm trứng, An Dương Vương có nỏ thần...'. Một khi Lịch sử không đáng tin thì không ai muốn đọc, muốn học, vậy thôi!

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.