Tăng trưởng và chống tham nhũng: Một số rào cản cần vượt qua

Bài viết dưới đây trình bày các vấn đề chung về tham nhũng, tác hại của nó đối với nền kinh tế của một quốc gia; sau đó đi sâu phân tích nạn tham nhũng như một hệ lụy của các chính sách tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, đồng thời trình bày một số khó khăn (thế lưỡng nan) trong việc giải quyết tình trang tham nhũng của chính quyền các nước đang phát triển. Cuối cùng là một vài gợi ý giải quyết vấn đề.

Những tác hại của tham nhũng đối với các nền kinh tế đang phát triển

Tham nhũng là việc lạm dụng quyền lực để đạt được các mục tiêu về tiền bạc hay quyền lực theo cách bất hợp pháp, không trung thực, không công bằng. Các nền kinh tế có mức độ tham nhũng cao sẽ không thể phát triển thịnh vượng như những nền kinh tế có mức tham nhũng thấp. Tham nhũng trong các hoạt động chính trị và kinh tế của một quốc gia ảnh hưởng tiêu cực toàn bộ xã hội.

Ngoài các số liệu về dân sinh như tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh, tỷ lệ biết chữ cho thấy bức tranh xấu ở các nước có mức độ tham nhũng cao, các nghiên cứu và khảo sát cho thấy ở các nước có mức tham nhũng cao các nguồn tài nguyên không được phân phối và sử dụng hiệu quả do có sự móc ngoặc của các cơ quan quyền lực cấp phép và doanh nghiệp; còn các doanh nghiệp trúng thầu hay có giấy phép thường dưới chuẩn nhưng nhờ là thân hữu nhà nước hay qua hối lộ. Mua sắm và đầu tư luôn công luôn bị thất thoát và có tỷ lệ lớn trên GDP của các nước có mức độ tham nhũng cao.

Tham nhũng dẫn đến tình trạng chung là giá cả cao so với mức sống nhưng chất lượng sản phẩm và dịch vụ thì kém. Tham nhũng tại các nước đang phát triển cũng là nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và tài sản, là nguyên nhân của tình trạng số ít rất giàu có do có quan hệ với chính quyền và số đông nghèo khó trong khi nhóm trung lưu rất mỏng và không lớn mạnh - các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn tồn tại ọp ẹp khó khăn bên cạnh các công ty rất lớn có liên hệ với nhà nước.

Tham nhũng cũng có quan hệ nhân quả với hệ thống tư pháp không độc lập, góp phần làm trầm trọng hơn bất công xã hội vì tại đó tòa án có thể bị chi phối bởi các nhóm lợi ích cũng như các quan chức tham nhũng. Tại các nước có mức độ tham nhũng cao, sở hữu trí tuệ không được tôn trọng, bản quyền các sản phẩm mới thường bị ăn cắp và những người sáng tạo không được luật pháp bảo vệ. Lợi nhuận có được trong việc sao chép luôn dễ dàng và cao hơn nhiều so với phát minh ra các sản phẩm mới. Tham nhũng vì thế góp phần lớn triệt tiêu phát minh và sáng tạo của nền kinh tế nói riêng và của một quốc gia nói chung.

Tham nhũng tại các nước đang phát triển còn là nguyên nhân dẫn đến kinh tế ngầm, khiến trầm trọng hơn bất bình đẳng thu nhập và tài sản. Đó là nơi các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường bị buộc chọn cách mặc cả về chi phí doanh nghiệp và thuế với các quan chức thuế, dẫn đến thất thu ngân sách, góp phần khiến nhà nước không thể đáp ứng những nhu cầu về phúc lợi y tế, giáo dục cho tầng lớp dân chúng thu nhập thấp. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng thường dễ dàng hối lộ để thoát các truy cứu vi phạm các trách nhiệm về tiền lương và điều kiện làm việc cho người lao động nghèo. Hay có thể nói, ở các nước tham nhũng, nhà nước, giới chủ, người làm công là ba đối tượng lần lượt bóc lột và bị bóc lột. Ở đó nhà nước bóc lột giới chủ và giới chủ không còn cách nào khác hơn là bóc lột người lao động.

Tham nhũng cũng được cho là có tác động tiêu cực đến chất lượng giáo dục của các quốc gia, làm cho các quốc gia tham nhũng càng khó vươn lên. Trong giáo dục, tham nhũng tại các nước khiến chi phí học tập gia tăng mà chất lượng giáo dục càng đi xuống do phụ huynh phải trả thêm những khoản chi phí không chính thức trong hoàn cảnh thường diễn ra thất thoát và kém hiệu quả trong đầu tư hệ thống sách giáo khoa và thiết bị trường học. Bên cạnh đó, chất lượng của đội ngũ giáo viên cũng xuống cấp do việc tuyển dụng không minh bạch, vì có thể thông qua hối lộ hay quan hệ. Bằng cấp có thể được mua bán, thao túng trong hoàn cảnh chuẩn chất lượng sư phạm đi xuống do chế độ thu nhập ngày càng giảm thấp và học sinh khá giỏi không chọn vào sư phạm, giáo dục.

Tóm lại, các quốc gia có nền kinh tế với mức độ tham nhũng cao sẽ tự làm chậm sự phát triển của chính họ. Toàn bộ xã hội bị ảnh hưởng do sự phân bổ nguồn lực không hiệu quả, sự hiện diện của một nền kinh tế ngầm, khoảng cách giàu nghèo gia tăng và giáo dục chất lượng thấp. Do đó, tham nhũng làm cho các xã hội tồi tệ hơn và làm giảm mức sống của hầu hết người dân.

Tăng trưởng kinh tế và tham nhũng ở Việt Nam

Chính quyền Việt Nam đã nhận thấy từ sau Đổi mới - 1986, tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quyết định. “Tăng trưởng” luôn là mục tiêu của hết đời Tổng bí thư, Thủ tướng này đến đời Tổng bí thư, Thủ tướng khác. Điều đó phù hợp kinh nghiệm của các nền kinh tế đi trước, đặc biệt là các nước/vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Đài Loan và gần đây hơn là Trung Quốc. Tăng trưởng cao và liên tục luôn là mục tiêu kinh tế được cho là sẽ đưa đất nước vượt lên từ thu nhập thấp sang công nghiệp và hiện đại phát triển. Từ đó, các giải pháp duy trì tăng trưởng kinh tế, có thể nói là bằng mọi giá, thường được áp dụng. Tuy nhiên, chính sách tăng trưởng cao và liên tục dẫn đến sự trả giá ít nhất về hai mặt. Đó là tài nguyên cạn kiệt - môi trường bị hủy hoại, và tham nhũng không thể kiểm soát được. Vì vậy, một mặt tăng trưởng kinh tế làm tăng uy tín nhà nước, mặt khác chính tham nhũng nảy sinh từ tăng trưởng làm sụt giảm uy tín của nhà nước. Nghịch lý này luôn tồn tại nhưng càng trầm trọng ở những nền kinh tế đang phát triển mà ở đó sự minh bạch của thể chế và trách nhiệm giải trình của quan chức nhà nước không được đề cao.

Thứ nhất, chính sách cổ phần hóa DNNN và tham nhũng: Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhà nước phải liên tục tạo nguồn thu cho đầu tư, nhằm tạo công ăn việc làm, gia tăng tổng sản lượng. Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vừa tăng nguồn thu cho ngân sách để tái đầu tư, vừa thúc đẩy hiệu quả của chính các DNNN để các doanh nghiệp này tác động tích cực vào tăng trưởng và phát triển kinh tế. Vì thế, CPH luôn được xác định là giải pháp nâng cao hiệu quả của DNNN và tạo nguồn cho tăng trưởng. Giải pháp vừa góp phần giải quyết sự thiếu ngân sách đầu tư, vốn đã làm nhà nước bị động trong việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, vừa có tác dụng vãn hồi uy tín của nhà nước vì sự yếu kém triền miên của khối DNNN đã làm xói mòn lòng tin của dân đối với chính quyền trong quản lý kinh tế.

Tuy nhiên, chính quá trình CPH-DNNN bản thân nó lại là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng. Việc định giá thấp DNNN để bán cổ phần ra công chúng, nhưng thường tạo điều kiện cho “tay trong” mua lại trong điều kiện không minh bạch kéo dài nhiều năm đã biến nhiều tài sản công thành tài sản của các quan chức tham gia cổ phần hóa. Các công ty sân sau được thành lập nhằm hợp thức hóa việc bán rẻ tài sản nhà nước từ các DNNN chuẩn bị CPH và mua đắt tài sản từ các doanh nghiệp sân sau, là phổ biến. Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất đai của nhà nước trong các DNNN chuyển sang cổ phần là mồi ngon cho tư nhân- thân hữu các quan chức. Vì vậy, một mặt CPH làm cho một số các DNNN hay từng là DNNN năng động và hiệu quả hơn, tạo vốn cho ngân sách đầu tư của nhà nước góp phần vào tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, tham nhũng và sự giàu lên bất chính của các quan chức nhà nước và thân hữu lại khoét sâu sự oán thán của người dân, làm mất uy tín nhà nước và cả đảng cầm quyền.

Thứ hai, chính sách khai thác tài nguyên thiên nhiên - tham nhũng và tàn phá môi trường: Tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên thiên nhiên có sẵn có thể nói là biện pháp ít phức tạp, dễ hình dung nhất, nhưng đó là nơi giao thoa rõ nhất của tham nhũng và tàn phá môi trường. Việc khai thác không hiệu quả dẫn đến thua lỗ triền miên của các dự án khai thác tài nguyên, làm thất thu ngân sách nhà nước nặng nề, dù đã được cảnh báo nhưng vẫn cứ diễn ra. Từ các mỏ khai thác than đá, đến các nhà máy lọc dầu, từ các dự án boxit ở Tây Nguyên, đến dự án khai thác khoáng sản lớn nhất nước như dự án Núi Pháo, các sai phạm được thấy ở tất cả các khía cạnh, từ khai thác bán không khai báo, kỹ thuật khai thác lạc hậu làm thất thoát tài nguyên đến việc xử lý các vấn đề về môi trường, đền bù di dời dân cư. Cấp phép khai thác tràn lan nhưng thiếu quy hoạch và minh bạch trong quản lý là hai vấn đề song hành ngày càng nghiêm trọng. Mặt khác, sự độc quyền khai thác tài nguyên khoáng sản của các DNNN tuy với danh nghĩa là bảo vệ tài nguyên nhưng thực chất lại vượt ngoài kiểm soát của luật pháp, khai thác cạn kiệt tài nguyên, thiếu hiệu quả và tham nhũng tràn lan. Tham nhũng dưới dạng thất thoát trong công nghiệp khai thác tài nguyên khoáng sản luôn thể hiện với đơn vị ngàn tỉ đồng. Đó là chưa tính đến hậu quả của sự cạn kiệt tài nguyên, kể cả tài nguyên rừng và ô nhiễm môi trường nặng nề từ các dự án, vốn đã rõ ràng nhưng không thấy được kiểm soát.

Chính sách tăng trưởng nhằm tạo nguồn thu từ việc bán tài nguyên đã dẫn đến sự thiệt hại đối với nhà nước (xói mòn uy tín) lớn hơn nhiều so với cái được (lòng tin của dân vào chính quyền qua tăng trưởng, tạo việc làm)! Vấn đề chiến lược đặt ra là hậu quả của các dự án này về dài hạn: sự cạn kiệt tài nguyên và không thể hồi phục về môi trường có thể được xem như những khoản “ghi nợ” vào tương lai đối với uy tín và tính chính danh của chính quyền. Việc sớm xử lý dứt khoát, minh bạch có thể giúp chính quyền lấy lại uy tín của mình với chi phí thấp hơn nhiều so với các biện pháp thiếu dứt khoát và không minh bạch.

Thứ ba, đầu tư công và tham nhũng: Các chính sách kinh tế nêu trên đều được thi hành nhằm hướng tới tăng trưởng kinh tế mà về cơ bản là tạo nguồn thu ngân sách để từ đó đầu tư cho tăng trưởng. Đầu tư công lại là giải pháp trực tiếp chi ngân sách để tạo tăng trưởng. Tuy nhiên, tham nhũng trong đầu tư công là vấn đề đau đầu của chính quyền vì có thể nói nó như người anh em sinh đôi của chính đầu tư công tại Việt Nam. Tham nhũng xảy ra trong mọi khâu của một dự án đầu tư công, từ khâu lập hồ sơ dự án, quy hoạch, đến phê duyệt thẩm định. Thất thoát diễn ra ngay từ chủ trương đầu tư, thiết kế dự án, đền bù giải phóng mặt bằng, triển khai điều hành quy hoạch hằng năm, đến lựa chọn nhà đầu tư và thực hiện thi công.

Vì thế, tuy đầu tư công Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn trong GDP nhưng hiệu quả được đánh giá là rất thấp so với các nước, nghĩa là Việt Nam phải đầu tư nhiều USD hơn các nước để có 1 USD đóng góp vào GDP. Nếu tham nhũng kéo tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam xuống thì tham nhũng trong đầu tư công có thể nói là minh chứng rõ ràng nhất cho điều này. Rõ ràng, nhà nước không thể không thực hiện đầu tư công cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhưng tham nhũng trầm trọng trong đầu tư công đã đặt nhà nước vào thế lưỡng nan của việc củng cố uy tín của mình.

Vì vậy, cho dù việc thực thi một vài chính sách nêu trên là nhằm tăng trưởng kinh tế, nhưng hệ lụy lại là tham nhũng phát sinh. Chống tham nhũng có hiệu quả nhằm hạn chế tác động tiêu cực đến chất lượng tăng trưởng là điều chính quyền phải đương đầu. Và chính quyền Việt Nam cũng đang tỏ ra rất kiên quyết.

(Còn tiếp - Trong phần tiếp theo, tác giả thử phân tích một số khó khăn trong công cuộc chống tham nhũng của Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra một số đề nghị giải quyết những khó khăn này).

Lê Vĩnh Triển (Khoa Quản lý nhà nước, Trường đại học Kinh tế TP.HCM)


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận0

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.