Cần tránh tư duy 'án tại hồ sơ' trong xét xử

Vụ ông Huỳnh Văn Nén với hai án oan giết người. Ảnh: Vnmedia
Ngày 14.1, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức Hội nghị đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ công tác của ngành Tòa án năm 2018 và từ đầu nhiệm kỳ đến nay.

Trong những năm qua, bên cạnh những kết quả, thành tích đạt được đáng ghi nhận, thì ngành Tòa án còn một số tồn tại, hạn chế.

Đặc biệt, tính từ đầu nhiệm kỳ tới nay, đã có một số vụ án oan sai chấn động dư luận được ngành tòa án tổ chức xin lỗi. Đó là vụ ông Hàn Đức Long ở xã Phúc Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang bị án tử hình oan tội giết người và hiếp dâm, vụ bà Đặng Thị Nga và 2 con Trịnh Công Hiến và Trịnh Huy Dương ở Tuần Giáo, Điện Biên bị án oan giết chồng, giết cha. Vụ ông Nguyễn Trần ở ấp 2, xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai án oan “giao cấu với trẻ em. Vụ anh Nguyễn Huy Hòa ở Ba Bàu, Bình Thuận án oan tội cố ý gây thương tích, vụ Vũ Ngọc Dương ở Đống Đa, Hà Nội bị án oan 30 tháng tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Vụ ông Nguyễn Thanh Chấn, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang án oan chung thân về tội giết người. Vụ ông Huỳnh Văn Nén ở huyện Hàm Tân, Bình Thuận bị 2 án oan về 2 tội giết người. Vụ ông Trần Văn Thêm ở Bắc Ninh bị án tử hình oan tội giết em họ.

Đi tìm nguyên nhân của các vụ án oan sai bị hủy thì thấy, do việc đánh giá chứng cứ của tòa án các cấp đã chưa đảm bảo được đúng bản chất của nó. Chính vì việc sử dụng chứng cứ (không chính xác) cho nên đã cho ra những bản án oan sai như vậy.

Tại Điều 86 BLTTHS năm 2015 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.

Như vậy ngoài việc phải được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, thì trước tiên, chứng cứ phải là những gì có thật đã. Và như thế cũng có nghĩa rằng, không phải cứ thu thập theo trình tự, thủ tục của BLTTHS thì nó đã là chứng cứ. Đó là điều những người xét xử cần hết sức lưu ý.

Trên thực tế rút ra từ các vụ án oan sai bị hủy đã cho thấy, Hội đồng xét xử các vụ án đó đã "quên" mất khâu đầu tiên khi tiếp cận với những thứ "được thu thập theo trình tự, thủ tục" của BLTTHS quy định, do Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát chuyển đến. Đó là phải đánh giá với những thứ được tạm coi là chứng cứ đó, xem nó có phải là "những gì có thật" trong vụ án đó không đã. Chỉ khi nào những thứ đó là "những gì có thật" trong vụ án, và phải có liên quan đến hành vi xảy ra trong vụ án "để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”, thì mới được coi là chứng cứ.

Lâu nay trong công tác tư pháp vẫn còn có tư duy "án tại hồ sơ", cho nên khi những thứ này được Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát chuyển sang Tòa án thì ở những vụ án oan sai cán bộ xét xử đã xem xét dễ dãi, thậm chí có khi còn mặc nhiên coi nó là chứng cứ, mà thiếu đi sự cảnh giác rằng nó có thể không phải là "những gì có thật" trong vụ án đã xảy ra đó.

Từ các vụ án oan sai bị hủy đã cho thấy, mặc dù là "được thu thập theo trình tự, thủ tục" do BLTTHS quy định, nhưng do vô ý hoặc cố ý mà những thứ được coi là chứng cứ này ại không phải là "những gì có thật" như quy định đầu tiên của BLTTHS về chứng cứ.

Chẳng hạn như, lời khai bị mớm cung, bức cung, người làm chứng gian dối, vật chứng lấy không đúng thứ phản ánh hành vi xảy ra, sơ đồ hiện trường mô tả thiếu sót,... thì rõ ràng đã không phải là "những gì có thật" của vụ án, mặc dù "được thu thập theo trình tự, thủ tục" do BLTTHS quy định. Thậm chí có vụ án khi thiếu vật chứng thì đã bổ sung bằng cách lấy vật chứng từ ... bên ngoài vụ án để cho khớp với lời khai trong hồ sơ, và sơ đồ hiện trường bị điều chỉnh sao cho ... khớp với lời khai. Thế nhưng khi đưa vào hồ sơ thì lại là "được thu thập theo trình tự, thủ tục" của BLTTHS mà thành chứng cứ, mà Hội đồng xét xử lại không nghi ngờ tính "là những gì có thật" của nó. Và án oan sai ra đời chính là từ đó.

Như vậy, đã cho thấy tư duy lối mòn "án tại hồ sơ" là rất nguy hiểm, là nguyên nhân chính gây nên những vụ án oan sai chấn động dư luận.

Từ đó đã cho thấy để xác định được những thứ tạm coi là chứng cứ đó nó có phải là "những gì có thật" của vụ án hay không, tức là để đánh giá chứng cứ một cách chính xác, thì lại phải qua một khâu cực kì quan trọng khác, là tranh tụng tại phiên tòa, vốn lâu nay trong các vụ án oan đó đã bị các thành viên Hội đồng xét xử xem nhẹ với tư duy "án bỏ túi", tức là đã định hình sẵn kết quả vụ án trước khi đưa ra xét xử.

Điều này đã giải thích tại sao một trong các bước tiến hành tố tụng là phải có tranh luận tại phiên tòa, là một bước cực kì quan trọng, không thể thiếu trong công tác xét xử vụ án. Có nghĩa rằng, một vụ án được xét xử chính xác hay không, là phụ thuộc rất nhiều vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.

Chính bởi tại phiên tòa, các thứ "được thu thập theo trình tự, thủ tục" do BLTTHS quy định đang tạm được coi là chứng cứ, nhưng nó cần phải trải qua một khâu kiểm chứng rất quan trọng là tranh luận tại phiên tòa, để thẩm tra được nó có phải là "những gì có thật" của vụ án hay không? Từ đó Hội đồng xét xử mới đánh giá được những thứ đang tạm coi là chứng cứ ấy, xem nó có chứng minh được hành vi xảy ra hay không?

Có như vậy Hội đồng xét xử mới đưa ra được nhận định chính xác về diễn biến của vụ án. Từ đó mà có căn cứ kết luận đúng về hành vi của bị cáo, mà đối chiếu áp dụng đúng theo hệ thống pháp luật hiện hành.

Như vậy để khắc phục được tồn tại này, thì tới đây ngành Tòa án cần đặt trọng tâm hiệu quả xét xử là kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Việc tranh tụng tại phiên tòa một cách công bằng giữa các bên, các ý kiến đều được coi trọng ngang nhau, sẽ soi rọi nhiều chiều làm sáng tỏ được những góc khuất của vụ án mà nếu nhìn phiến diện bề ngoài với những thứ đang tạm coi là chứng cứ đó sẽ không phát hiện ra được. Ý kiến của bên bào chữa phải là ngang hàng với bên buộc tội, và tòa án chỉ được căn cứ vào kết quả tranh luận giữa 2 bên này để xét xử chứ không được theo nhận định chủ quan của mình hay nghiêng về phía bên "nhà nước". Đó phải được coi là nguyên tắc xét xử thì mới tránh được án oan sai.

Phạm Mạnh Hà


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận1

  • Nguyễn Hoàng HảiReply

    22-1-2019 09:25:54

    Trước hết để tìm hiểu tại sao Việt Nam cho tới gần đây có tình trạng "án tại hồ sơ“ – nghĩa là Tòa xử án căn cứ chủ yếu hồ sơ điều tra của công an và truy tố của Viện kiểm sát, mà ít quan tâm tới ý kiến bị cáo, kể cả luật sư thì cần đi ngược lại tìm hiểu vị trí Tòa án đứng ở đâu trong hệ thống pháp luật, kể cả chính trị. Để dễ hiểu theo tôi nên lấy 1 mô hình Tòa xử được theo nguyên tắc „Án xử tại Tòa“ tại 1 nước pháp quyền như Đức. Hiến pháp nước họ xác định rõ ràng vai trò hệ thống tư pháp (Tòa án) được xếp tương đương vị thế của Quốc hội và hành pháp (3 quyền này coi như tương đương – trong khi ở ta vị thế Tòa không cao nếu xem cấu trúc chính trị địa phương Chánh án chỉ là cấp ủy trong khi công an là thường vụ - gần đây có được nâng cao hơn nếu nhìn vị trí Chánh án TATC, còn trước đây lẫn lộn cả Viện kiểm sát, công an … vào tư pháp). Sau đó cũng theo hiến định thì quyền độc lập của thẩm phán ở họ là "nói chung“ trong mọi hoạt động, chứ không chỉ giới hạn khi "xét xử“ như ta và việc bổ nhiệm của họ là suốt đời, thải hồi hay luân chuyển theo 1 quyết định của hội đồng thẩm phán, chứ không như ta bổ nhiệm có thời hạn và bố trí công việc do các tổ chức Đảng và chính quyền quyết định. Với tất cả các điều kiện đó thì thẩm phán ở họ mới có điều kiện thực sự để ra quyết định chỉ tuân theo pháp luật – và chưa kể việc tuyển mộ thẩm phán của họ là những người tốt nghiệp luật xuất sắc nhất, được nhân dân nước họ tín nhiệm (ở ta mỗi nghành đào tạo riêng như Tòa án có Học viện riêng, Nghành kiểm sát riêng và công an riêng … - riêng nghành công an đang có xu hướng học sinh giỏi xin vào vì có những lí do tạm chưa nói ở đây). Còn như đã thấy quá khứ 2 cơ quan là công an quá ư quyền lực là cơ quan điều tra và Viện kiểm sát vị thế tương đương Tòa án truy tố thì đến cả thẩm phán Tòa án tối cao như ông Phạm Tuấn Chiêm trong vụ Nguyễn Văn Chấn trước đây khó tránh khỏi tai nạn nghề nghiệp theo lời ông ta tự bộc bạch chứ không nói tới các Tòa án địa phương. Còn hiện nay để tránh điều này theo tôi hiểu cần có các cải cách tiếp nâng vị thế của Tòa án trong hệ thống chính trị và riêng vị thế của thẩm phán cũng cần phải được bổ sung trong các văn bản cơ bản nhất về pháp luật như các nước pháp quyền cao.

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.