Bàn về nghĩa vụ tố giác tội phạm của luật sư

Không phải ngẫu nhiên mà việc giữ bí mật thông tin về vụ việc, về khách hàng lại là một trong những nghĩa vụ của luật sư được quy định trong Luật Luật sư và Quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp luật sư Việt Nam.

Liên quan đến tội không tố giác tội phạm, theo Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì chỉ có ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội mới là đối tượng được loại trừ, không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này (trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng). Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015 đã bổ sung thêm một chủ thể mới là người bào chữa nếu họ không tố giác tội phạm do thân chủ đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Có thể nói đây là một bước tiến bộ trong việc ghi nhận quyền công dân của người bị tình nghi là tội phạm cũng như vai trò của người bào chữa nói chung và luật sư nói riêng. Điều này được dựa trên cơ sở nguyên tắc suy đoán vô tội quy định trong Hiến pháp 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Theo đó, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh tội phạm còn bản thân người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

Về phía người bào chữa (mà chủ yếu là luật sư), họ đóng vai trò là người “góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” (theo Điều 3 Luật Luật sư 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012); làm sáng tỏ những tình tiết xác định thân chủ vô tội hoặc những tình tiết làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho thân chủ. Khi tham gia bào chữa, thực chất luật sư không chỉ hỗ trợ cho thân chủ về mặt pháp lý mà còn giúp họ ổn định về mặt tâm lý, tinh thần, là cầu nối giữa thân chủ và gia đình họ; và thường được thân chủ tiết lộ các thông tin liên quan đến vụ việc một cách chi tiết, cụ thể nhất. Tất nhiên luật sư không được phép xúi giục thân chủ khai sai sự thật hay cung cấp tài liệu, bằng chứng giả nhưng không có nghĩa là luật sư có nghĩa vụ sử dụng thông tin mà thân chủ tiết lộ để tố giác ngược lại họ cho cơ quan tiến hành tố tụng. Bởi nếu tố giác thân chủ rõ ràng làm trái với lương tâm và đạo đức nghề nghiệp luật sư, phản bội lại niềm tin của thân chủ dành cho luật sư và hoạt động bào chữa không thể thực hiện được.

Không phải ngẫu nhiên mà việc giữ bí mật thông tin về vụ việc, về khách hàng lại là một trong những nghĩa vụ của luật sư được quy định trong Luật Luật sư và Quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp luật sư Việt Nam. Hơn nữa, nếu buộc luật sư phải tố giác thân chủ thì đã mâu thuẫn với điểm g Khoản 2 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về việc: người bào chữa không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản. Thông lệ của hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng cho thấy việc bảo mật thông tin cho thân chủ là nghĩa vụ của luật sư và họ không phải chịu trách nhiệm hình sự vì không có hành động tố giác tội phạm. Họ có quyền từ chối tiếp tục bào chữa, biện hộ cho thân chủ nhưng không thể sử dụng các thông tin mà thân chủ đã tiết lộ cho họ để khai báo với các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm buộc tội thân chủ của họ.

Song theo tôi, phạm vi loại trừ trách nhiệm của người bào chữa theo Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015 còn quá rộng (có khoảng 100 loại tội phạm mà người bào chữa có nghĩa vụ phải tố giác nếu biết được, kể cả trong trường hợp tội phạm đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện). Với đặc thù nghề nghiệp của luật sư, không thể đánh đồng nghĩa vụ tố giác tội phạm của họ khi tham gia bào chữa với ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội. Thiết nghĩ phạm vi này cần phải được thu hẹp hơn, chỉ áp dụng đối với các tội về xâm phạm an ninh quốc gia, không buộc luật sư phải tố giác đối với thân chủ phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng. Ngoài ra, khi Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi thì các quy định có liên quan trong Luật Luật sư hoặc các văn bản khác cũng cần được sửa đổi, tránh để xảy ra tình trạng luật “đá” luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam./.
LS Nguyễn Văn Hậu – Chủ tịch Trung tâm trọng tài thương mại Luật gia Việt Nam - Phó chủ tịch Hội luật gia TP.HCM


BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận3

  • Trần Thế hùngReply

    28-5-2017 10:51:29

    Nên bãi bỏ quy định "luật sư...tố cáo thân chủ" với tất cả mọi trường hợp. Xã hội phân công mỗi người mỗi việc, mỗi ngành mỗi nghề. Luật sư không cần kiêm nhiệm thêm nghề...chỉ điểm, công an, công tố. Luật sư là cái "miệng biết luật" của nghi can, phạm nhân. Nói một cách khác (bóng bẩy), họ (luật sư) chính là phạm nhân khoác áo luật khi đối thoại với thẩm phán, công tố. Họ không phải là cái tay nối dài của nhà nước, vì vậy, phải chăng đừng nên quy định họ phải làm những việc mà nhà nước cần làm.

  • Nguyễn Hoàng HảiReply

    27-5-2017 03:06:30

    Tham khảo Bộ luật hình sự Đức hiện hành áp dụng chế tài hình sự đặc biệt (các tội khác không bị bắt buộc phải tố cáo) với công dân phải tố giác người thân của mình tại Điều 138 BLHS đối với các hành vi phạm pháp đang được lên kế hoạch Căn cứ Điều 139 „Không phạm tội khi không tố giác các hành vi phạm pháp đã được lên kế hoạch“ luật pháp Đức sẽ không truy cứu người họ hàng ruột thịt và thông gia, luật sư, người bào chữa, bác sỹ, nhà trị liệu tâm lý học theo Điều 139 khoản 3: (tạm dịch): Nhưng có lẽ đáng quan tâm hơn của Điều 139 là ở khoản 4 của nó: (tạm dịch)

  • Luật SinhReply

    26-5-2017 07:12:27

    Ở nước ngoài, khi nhận bào chữa cho một nghi can thì nghi can này là thân chủ của luật sư. Các luật sư có thể tiến hành điều tra, thu thập tài liệu phục vụ cho việc bào chữa cho thân chủ. Nếu nhận thấy, vụ án là "có vấn đề" với quan điểm của mình, luật sư sẽ thông báo từ chối việc thụ lý nó với thân chủ. Luật ở ta quy định phải tố cáo...thân chủ trong một số trường hợp đặc biệt. Thế thì luật sư có tố cáo hay không là ở nhận thức vấn đề chứ không ai có thể biết được luật sư có biết, trừ trường hợp nghi can tự nguyện công khai và cho biết đã có trao đổi nó với luật sư. Ở đây "quyền được im lặng" được tư pháp của họ công nhận. Luật sư công bố những gì ngoài ý muốn của thân chủ (phản phé) tất nhiên cũng tự mình đóng cửa nghề của mình, không ai thuê nữa! Ở ta nếu có 'luật sư công' hưởng lương nhà nước thì họ sẽ làm theo luật định, còn luật sư thuê thì họ sẽ nhắc nhở..."ông chớ nên khai với tôi những gì bất lợi cho ông và cả cho tôi theo quy định. Ông có hiểu lời tôi nói không?"

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.