ngày 19 tháng 11 năm 2017
Tạp văn
 

Chuyện vặt thời đã qua: Ổ rơm nhà nghèo

In bài viết
Cây rơm, hình ảnh quen thuộc của làng quê ngày trước - Ảnh: Internet
  Làng quê giờ đã khác trước, nhiều nhà tầng, đường sá rộng rãi khang trang hơn, nhưng chả hiểu sao tôi vẫn không quên những cây rơm. Nhiều đống rơm trông rất đẹp, như cây nấm khổng lồ, vàng óng, tạo nên hình ảnh đẹp đẽ, quen thuộc, thân thương của làng quê.

Bây giờ, ở cả thành thị lẫn nông thôn người ta đã quen với sinh hoạt ăn uống 3 bữa. Sáng bữa phụ, trưa và chiều tối bữa chính. Nhưng hồi tôi còn bé, cho đến hết những năm 60, ở nhà quê (miền Bắc nói chung, vùng Hải Phòng quê tôi nói riêng) chỉ ăn 2 bữa thôi. Bữa sáng vào lúc 5 rưỡi hoặc 6 giờ, bữa chiều tầm 12 giờ rưỡi hoặc 1 giờ chiều. Tối nhịn.

Buổi sáng ngủ dậy, đánh răng rửa mặt xong, cả nhà xúm vào mâm cơm. Thường thì mùa hè cũng như mùa đông, thày bu tôi hoặc chị tôi dậy từ sớm tờ mờ nấu nướng. Sau này tôi hỏi thày, sao mình không bắt chước dân thành phố ăn vào tầm trưa và tối cho nó văn minh, đỡ vất vả, thày tôi cười, dân phố họ có thứ để ăn sáng nên họ mới ăn bữa chính vào buổi trưa, còn nông dân suốt sáng mà bụng đói thì chả hơi sức đâu cày bừa, gồng gánh. Phải chắc dạ mới làm được việc nặng. Nghe cũng có lý.

Người lớn sau buổi làm đồng sáng, trẻ con sau buổi học sáng thì tiếp tục ăn bữa cơm chiều. Ăn cho có sức đến tối. Rồi lại ra đồng, lại đi học. Tới tối, nếu nhà nào có củ khoai củ sắn luộc, hay còn chút cơm nguội (mà cơm nguội thì rất hiếm) chia nhau lót dạ, chờ đến bữa sáng mai.

Nhiều lúc ngẫm nghĩ, tay nào dùng chữ “lót dạ” lần đầu tiên quả là giỏi. Ăn mà có cảm giác chưa hề ăn, lót vào trong dạ dày một lớp dinh dưỡng mỏng mòng mong, suốt đêm cứ có cảm giác chống chếnh thế nào ấy. Lại khổ nỗi, khoai lang là chúa gây cào bụng, nhãi ruột, nhưng không nuốt nó chắc sẽ cồn cào hơn. Những nhà vườn rộng thì trồng gài thêm vào xung quanh góc vườn, bờ dậu vài khóm dong riềng, mình tinh, sắn dây, lâu lâu bới một rổ luộc ăn cũng đỡ. Gia đình nào cũng có chum khoai khô phòng lúc giáp hạt, tháng ba hoặc tháng tám (hai tháng này là lúc lương thực của mùa vụ cũ đã gần cạn nhưng lại chưa có thóc của mùa vụ mới, nên gọi là giáp hạt). Thích nhất có hôm chị tôi hoặc bu tôi chịu khó làm món khoai khô bung, nấu nhừ với đỗ đen, thêm tí đường vàng vào, cả nhà cứ vui như tết. Tôi có ông anh (con ông bác ruột) lấy vợ ngoài phố, cứ mỗi lần về quê đều cười bảo đừng có gà qué, tôm cá gì, chỉ cho cháu xin bát khoai khô bung thôi. Thèm lắm, nhớ lắm.

Buổi tối không phải lo chuyện ăn uống, không mất thời gian cho bữa ăn nên tuy đói, thì bù lại có nhiều thời gian để làm những việc khác. Mà quả thật sao hồi ấy lắm việc vặt vãnh thế. Chuyện lau bóng đèn dầu hỏa, châm dầu mỗi tối tôi đã kể rồi, nay kể tiếp những thứ “vớ vẩn” khác.

Một việc nữa bắt buộc bọn trẻ con phải làm khi xế chiều, tầm gà lên chuồng là rút rơm. Nhà nào nuôi trâu thì rút rơm bỏ vào chuồng cho trâu ăn đêm. Lũ trâu vất vả hơn người, ngày cày bừa, chỉ tranh thủ lúc giải lao được tha thẩn gặm cỏ bờ ruộng, chiều tối được tụi trẻ dắt ra bãi Mả Đò hoặc sau chùa Trà gặm vội thêm chút cỏ nữa, còn suốt đêm chỉ trệu trạo nhai rơm. Nhà tôi không nuôi trâu, đỡ được khoản rơm trâu ấy nhưng vẫn phải rút rơm bỏ đầy thùng trấu trong bếp để hằng ngày nấu nướng. Có những hôm lười, cốt làm nhanh để kịp ra ngoài đình chơi trận giả hoặc lên sân kho hợp tác xem phim mà đội chiếu bóng lưu động mỗi tháng chỉ về một lần, nên làm kiểu dối trá, rút ít gọi là, chỉ loắng hoắng vài ôm, bỏ lồng khồng vào thùng trấu cho có vẻ đầy. Chẳng may đêm ấy hoặc ngày hôm sau mưa rả rích sẽ không đủ rơm khô để nấu cơm nấu cám, thế nào thày bu cũng trách. Ra cây rơm rút thêm nhưng rơm bị ẩm nấu nướng vất vả lắm, không bắt lửa, khói quẩn đặc cả gian bếp. Đến khi lớn rồi, có những hôm phải ngồi bếp phù mồm thổi lửa, khói bốc mù mới thấy ân hận, thương thày bu khổ bởi con cái không chịu nghe lời.

Bây giờ, dù nông thôn đã có máy cày, có nhiều loại chất đốt, nhà thường lợp bằng ngói nhưng nhiều nơi vẫn còn những cây rơm quen thuộc - Ảnh: Internet

Rút rơm phải khéo, rút từ dưới lên, rút đều xung quanh. Hầu như nhà nào cũng có đống rơm (cây rơm) được đánh rất tròn rất khéo, chặt chẽ chắc nình nịch. Có thế mới chất được nhiều, để dùng suốt vụ, chờ rơm vụ sau. Nhiều đống rơm trông rất đẹp, như cây nấm khổng lồ, vàng óng, tạo nên hình ảnh đẹp đẽ, quen thuộc, thân thương của làng quê. Rơm là nguồn chất đốt chính, mãi về sau, hồi đầu thập niên 70 nhà nước bán cho tí than Quảng Ninh, đem trộn với bùn nặn thành bánh phơi khô để đốt lò, nông dân nấu nướng mới đỡ vất vả.

Mùa đông, cái thùng trấu chứa rơm được anh em tôi biến thành chiếc ổ, ngủ trong đám rơm tuy hơi rặm, ngứa ngáy nhưng phải nói ấm vô cùng, chả cần nhiều chăn như ngủ trên nhà. Bây giờ ngồi nhớ chuyện này, lại loáng thoáng câu thơ của thi sĩ Nguyễn Duy trong bài Hơi ấm ổ rơmTrong cái ấm hơn nhiều chăn nệm/Của những cọng rơm xơ xác gầy gò”. Ngủ thùng rơm cũng chẳng cần phải rửa chân. Mùa đông mà người nhớn cứ bắt bọn trẻ con phải đi rửa chân trước khi ngủ, như ông anh tôi cằn nhằn chả khác gì bị hành tội (chuyện rửa chân tôi sẽ tách riêng ra thành một bài khác). Sau này, cái nhà bếp cũ có thùng trấu bị phá đi, sửa thành nhà dưới, còn bếp chuyển về sát bờ giếng và bể nước mưa cho tiện, tôi cứ tiếc mãi chiếc ổ rơm tuổi thơ nghèo mà đầm ấm ấy. (còn tiếp)

Nguyễn Thông

 
hotline
Quảng cáo: 091 2161163
Nội dung: 090 186 3399
 
TIN LIÊN QUAN
 
 
 
Bình luận 1
04/05/17PHẢN HỒI
Hoài niệm của một thời "cố quận" là cái cố tật của người lớn tuổi. Hương vị đồng quê (mùi rơm, mùi đất ruộng, mùi khói bếp) luôn là nỗi day dứt trong tâm hồn của người tứ xứ...gần đất xa trời! Chưa kể "cô hàng xóm, cô láng giềng, cô hàng nước" thuở ấy! Thời bao cấp, đa số dân quê là...bần cố nông, ít ra trong cái ăn, cái mặc. Cung cách làm ăn cũng có vẻ giống cố nông luôn do không có một thị trường đúng nghĩa. Thế mà trong cái vất vả, thiếu thốn thì cái tình cố hương lại gắn bó con người mạnh mẽ nhất. Tôi cũng có những thi vị "thú đau thương" giống như ông. Mỗi lần về quê, đêm về tôi cũng thích lang thang ngoài bờ ao, bờ ruộng để nghe tiếng ếch nhái kêu vang, tiếng kêu buồn bã như níu kéo kỷ niệm của một thời xa vắng. Chúng ta đã già, chúng ta không còn nhiều thời gian. Trước khi buông thắng, kỷ niệm chất đầy trên yên xe sẽ theo chúng ta qua thế giới bên kia. Con người hạnh phúc chứ không phải bất hạnh vì kỷ niệm, những kỷ niệm đầy nỗi niềm mơ ước được sống lại cùng với nó!
Gửi bình luận
Họ và tên *
E-mail *
Tiêu đề
Nội dung *
 
 
 
 
 
 
XEM NHIỀU NHẤT
 
 
 
 
 
 
  • Quốc Phong

    Nhà báo

    Phát biểu vào chiều 13.11 tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra về dự thảo luật Bảo vệ bí mật nhà nước và dự luật An ninh mạng, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm cho biết đây là 2 dự án luật rất quan trọng, là đòi hỏi của thực tiễn phát triển đất nước và nhằm thực hiện Hiến pháp năm 2013, liên quan đến quyền tự do dân chủ của nhân dân. Đây cũng là vấn đề rất khó, không chỉ với Việt Nam mà với thế giới.

  • Lê Học Lãnh Vân

    Chuyên gia quản trị

    Nếu tưởng thưởng xã hội tỷ lệ nghịch với đóng góp cho xã hội cứ được duy trì công khai trước mắt người dân thì càng về sau thành phần không lương thiện càng lấn át thành phần lương thiện.

  • Quốc Phong

    Nhà báo

    Thật không ai có thể hình dung nổi câu chuyện cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ, quả phụ nhà tư sản dân tộc Trịnh Văn Bô vào những ngày sau Tổng khỏi nghĩa Cách mạng tháng Tám. Khi đó, cụ đã nhận trách nhiệm cực kỳ to lớn trước Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh mà không hề hay biết nhiệm vụ lịch sử.

  • Lê Học Lãnh Vân

    Chuyên gia quản trị

    Một quốc tang sẽ giáo dục lòng nhân ái, lòng quý trọng sinh mạng con người, đoàn kết người ta với nhau trong tình nhân loại, trong thảm họa chung, khiến người ta quyết tâm hơn trong việc ngăn ngừa thảm họa. Quốc tang cho người dân cảm nhận và hiểu rằng sinh mạng của mỗi công dân được quý trọng như nhau.

  • Lê Học Lãnh Vân

    Chuyên gia quản trị

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nêu lên ý kiến về một chính phủ kiến tạo. Có thể xem trở thành chính phủ kiến tạo là một Tầm Nhìn của thủ tướng.