ngày 19 tháng 11 năm 2017
Tạp văn
 

Chuyện vặt thời đã qua: Chuyện ăn độn (tiếp)

In bài viết
Lương thực (gạo) khan hiếm đến nỗi tem phiếu mua gạo tính cụ thể đến đơn vị 25 gam một ô phiếu - Ảnh: Tư liệu/Internet
  Thưởng thức bo bo được vài năm, mặt anh nào anh ấy hõm vào, giơ xương, hốc hác, thiếu hẳn sinh khí, nhìn mặt chỉ thấy cằm thấy trán bọc da, lơ thơ lèo bèo chút thịt.

Nhiều khi cơm độn cũng chả đủ cho nhà đông miệng ăn, không ít gia đình phải dùng đến cách độn gián tiếp là ăn thật nhiều rau củ. Nhà tôi sau khi đã vào hợp tác xã cũng thiếu gạo như những hộ xã viên khác, cơm bữa chỉ 2 lưng bát mỗi người nên rau thành món độn chủ lực. Có những bữa, rửa rau muống cả rổ sề, chỉ luộc chấm mắm cáy thôi, thế mà cũng ăn hết. Rau thay cơm. Mùa nào thức ấy, canh rau cải, rau tập tàng (gồm những loại rau dại như rau sam, rau dền, rau muối… nấu chung với nhau), mướp, rau ngót, ngọn khoai lang, ngọn bí, đọt bầu, mùng tơi… chiếm lĩnh mâm cơm, cứ xanh ngăn ngắt. May mà ăn rau nhiều không chán, lại sẵn nữa, không thì chết đói.

Lại nhớ sau khi nhạc sĩ Vũ Trọng Hối có bài hát Bước chân trên dải Trường Sơn, được ít lâu thì có bài chế theo. Lời nguyên của nó là “Ta vượt trên triền núi cao Trường Sơn/đá mòn mà đôi dép không mòn/Ta đi nhằm phương xa/gió ngàn đưa chân/ta về quê hương/quân về trong gió đang dâng triều lên” được chế thành “Ta lại đi và nấu cơm nồi nhôm/rế mòn mà cái đít không mòn/Ta bắc nồi cơm lên/sắn nhiều hơn ngô/ngô nhiều hơn khoai/khoai nhiều hơn cơm/trông nồi cơm đó thấy sao mà ngán”, đứa nào cũng thuộc, ngồi dăm ba đứa lại hát inh ỏi cho vui và đỡ đói.

Như đã nói ở phần trước, tôi vừa sinh ra đã chịu cảnh ăn độn, thì như mọi đứa mới sinh cũng được bú mẹ nhưng mẹ chỉ tinh ăn độn khoai củ, rau thay cơm, ít sữa nên suốt tuổi thơ tôi lúc nào cũng còi cọc đèo đẹn. Tuy nhiên, thời ăn độn ghê nhất lại là lúc bắt đầu đi làm, năm 1977, trở về sau.

Tốt nghiệp đại học tháng 12.1976, tháng 4.1977 tôi khăn gói quả mướp xuống tàu biển Thống Nhất ở bến Chùa Vẽ, Hải Phòng vào Nam, hành nghề dạy học. Mấy tháng chờ việc ở quê nhà, thày bu tôi thương thằng con gần 4 năm đói dài đói rạc nên bồi dưỡng chút thức ăn có chất đạm bù lại. Tôi 4 tháng được ăn cơm trắng, rau cỏ vườn nhà, cá mú vùng quê cũng khá rẻ nên trông đã ra cái hồn người, đã có tí da tí thịt. Khi biết tôi phải vào Nam, thày tôi động viên, bảo miền Nam lúa gạo tôm cá nhiều, vào trong ấy chắc đỡ hơn, con ạ.

Thày tôi nói đúng, nhưng chỉ đúng khoảng 3 tháng. Tôi ở khu tập thể của trường trên đường Nguyễn Chí Thanh, quận 5 Sài Gòn, ăn cơm nhà ăn tập thể. Cơm trắng tinh, đồ ăn bữa thịt bữa cá không đến nỗi nào. Thầm nghĩ, sướng, thế mà cứ định chống lệnh, định ăn vạ ở quê. Mấy anh em từ các khoa Văn, Sử, Địa của Đại học Tổng hợp Hà Nội vào, túm tụm ở chung vài phòng trong cái khách sạn cũ dành cho sĩ quan Đại Hàn, được Quân khu 7 bàn giao cho trường làm ký túc xá. Đến bữa ăn thì kéo nhau xuống nhà ăn, ngày hai bữa, hết giờ dạy thỉnh thoảng mượn cái xe đạp làm vài vòng thăm thú phố phường. Tối thì chấm bài, chơi domino, gần khuya nấu mì tôm ăn xì xụp, tưởng như xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công đến nơi rồi.

Được 3 tháng, đến cuối tháng 7.1977. Đùng một cái, hết gạo. Nhà bếp thông báo từ nay không nấu cho giáo viên nữa, để các anh chị tự mua lương thực tiêu chuẩn về nấu riêng. Chả là gạo tiêu chuẩn 16 ký giờ chỉ còn 6 ký, số còn lại được thay bằng mì tôm, sắn (củ mì), bột mì. Sang năm 1978 kinh hoàng hơn, củ mì bột mì cũng hiếm, chỉ rặt hạt bo bo (lúa mạch nhập về để chăn nuôi nhưng giờ dành cho người). Với khẩu phần lương thực đa dạng hổ lốn thế, nhà bếp bó tay chả biết phải nấu nướng thế nào phục vụ thầy cô giáo. Với đám sinh viên, nhét kiểu gì cái gì vào mồm chúng mà chả được, nhưng với những “bậc” trí thức thì họ ngại. Chả nhẽ lại phát cho thầy cô 3 củ sắn luộc ăn trước khi lên lớp.

Trong số thức độn đó, may mắn là mỗi tháng tiêu chuẩn giáo viên có 8 gói mì tôm thay gạo. Mì gói giấy hiệu Vifon hoặc sau này là Colusa, vỏ có 2 con tôm nên chết tên mì tôm. Suốt thời gian dài, mì gì thì mì, bất kể của hãng sản xuất nào, dân chúng đều gọi là mì tôm tuốt, cũng như có thời bất cứ loại xe máy nào cũng gọi thành xe Honda. Tôi với thầy Vy đồng hương Hải Phòng, đồng khoa (anh Vy người Thủy Nguyên, Văn khoa khóa 16) bàn cách gộp mì tôm của hai thằng lại được 16 gói, nhờ lão Đào Gia Thiệp là bộ đội đi học đem xuống hẻm bán cho bà người Tàu rồi mua lại gạo mậu dịch của bà ấy (bà này chuyên buôn lậu gạo, lại móc với nhân viên kho lương thực nên lúc nào cũng sẵn gạo mậu dịch). Mì ăn liền thời đó hiếm, chỉ phân phối cho cán bộ nhân viên nhà nước nên được giá. 16 gói mì chuyển ngang được vài ký gạo, đem về nấu dè sẻn cho đỡ thèm hơi cơm.

Lương thực đã thiếu, thực phẩm lại càng thiếu hơn, ngay cả lòng lợn, đậu phụ, trứng cũng chỉ phân phối cho cán bộ nhà nước - Ảnh: Tư liệu/Internet

Hồi ấy, một ký gạo được quy thành 3 ký đại mạch (bo bo), nhập từ Liên Xô. Người và lợn tranh nhau thứ đặc sản này. Nó nhỏ hơn hạt đỗ đen, màu nâu nhạt, lõm giữa, cứng như đá. Đã không có điện đun nấu, thiếu cả than củi (đến nỗi thầy Võ Thanh Long dạy lý trong chuyến đi chơi thăm công trình thủy điện Trị An chả thiết ngắm nghía gì, cứ nhăm nhăm tìm mua củi, đem về chất đầy hành lang ký túc xá, còn nhà chú Thăng chỉ chẻ củi mà nát cả nền gạch phòng xép trên lầu 4), vậy mà thứ của khỉ này đổ vào nồi nhôm đặt lên bếp than tổ ong hầm đến lụi bếp mới chịu nở mềm. Nhai nó nhạt nhẽo, như trâu trệu trạo nhai rơm trong chuồng. Không ăn thì đói, cố nuốt, nghẹn, nước mắt trào ra. Ăn vào thế nào, khi thải ra vẫn y nguyên vậy. Không ngờ đời giáo học của nhà trường xã hội chủ nghĩa một đất nước đã thống nhất "nào bên nhau cầm tay, ta lên đường hạnh phúc" như lời một bài hát của nhạc sĩ Văn An, mà khổ thế, khổ như con lợn, thảm hơn cả anh giáo Thứ trong Sống mòn của cụ Nam Cao xưa kia.

Lão giáo học Vy nghĩ ra một kế, hầm bo bo cho mềm, xong lấy chảo quẹt tí mỡ (mỡ cũng là hàng hiếm) đổ bo bo vào đảo lên, nêm nếm mắm muối, thêm ít cọng rau, thành món hổ lốn, Vy đặt tên là “Ngọc thực đặc sản”. Xơi được vài bữa cũng chán bởi dù gì nó cũng chỉ là bo bo. Mì tôm còn có giá, còn bán cho mụ Tàu được, chứ bo bo thì… chó nó thu mua. Thưởng thức bo bo được vài năm, mặt anh nào anh ấy hõm vào, giơ xương, hốc hác, thiếu hẳn sinh khí, nhìn mặt chỉ thấy cằm thấy trán bọc da, lơ thơ lèo bèo chút thịt. Đó là khuôn mặt điển hình thực tế của phần đông giáo chức những năm từ 1978 đến giữa những năm 1980.

Cuối năm 1980 tôi cưới vợ. Thầy Châu Hoàng Tiểng dạy toán, người chụp ảnh duy nhất của Trường Dự bị đại học TP.HCM, ưu ái chụp cho cuộn phim đen trắng ORWO 32 kiểu. Gửi phim sang Liên Xô nhờ ông anh trai đang học bên đó rửa ảnh cho rẻ. Giờ thỉnh thoảng lật giở coi lại mấy cái hình đám cưới, nhìn mặt mình, cứ tưởng đứa nào. Đưa cho con xem, chúng săm soi ngắm nghía ngồi lâu rồi bảo chắc không phải bố. Riêng chuyện đám cưới thời bao cấp tôi sẽ viết ở phần tiếp theo.

Nguyễn Thông

 
hotline
Quảng cáo: 091 2161163
Nội dung: 090 186 3399
 
TIN LIÊN QUAN
 
 
 
Bình luận 3
25/05/17PHẢN HỒI
Cũng không cần phải phân giải .Chuyện đã qua rồi nhắc lại làm gì nữa? Tem phiếu thì đã phân loại A , B,C rồi, cửa hàng Tông Đản thì lúc nào cũng có mà. Tất cả thì nhân viên, công nhân, nhân dân lao động, người dân chịu khổ mà thôi. Tất cả lúc bấy giờ đều đúng. Nhưng chỉ cần 1 cơ chế để mở trói cho sản xuất.
25/05/17PHẢN HỒI
cảm nhận hồi nhỏ : với bà con, ăn bo bo là thảm họa. Nhưng bo bo nuôi sống cả xóm tôi ở Chợ Lớn, cha chú chúng tôi thu mua nhưng không ăn mà chế ra bột mì, từ ân đức chỉ dạy của một anh hàng xóm người Sơn Đông, tiếc là không thể áp dụng rộng rãi vào thời đó, vì 100 điều khó (cấm đủ thứ).
23/05/17PHẢN HỒI
Bắt đầu từ giữa năm 1978, nước ta bắt đầu một giai đoạn khủng hoảng về kinh tế. Sản xuất kém hiệu quả lại thêm khâu phân phối bị bó hẹp cho nên càng tác động vào năng lực sản xuất. Việc viện trợ từ khối xã hội chủ nghĩa giảm mạnh, TQ thì cắt hẳn viện trợ, còn miền nam trước giải phóng do tình trạng chiến tranh và hầu như dựa phần lớn vào viện trợ của Mỹ cho nên nền nông nghiệp cũng không thể mở rộng đủ đáp ứng cho toàn miền. Thực ra trong miền nam trước 75, từ năm 73 đã có dấu hiệu khủng hoảng về kinh tế do Mỹ giảm viện trợ đồng thời ảnh hưởng từ việc Mỹ và đồng minh rút quân cho nên thu nhập dựa vào phục vụ cho đội quân này không còn nữa...mà đây là nguồn thu dịch vụ rất quan trọng, rất lớn đối với người dân. Chính sách kinh tế theo mô hình tập trung có trách nhiệm phần lớn trong việc tạo ra khủng hoảng nhưng rất may là chủ trương phát triển nông nghiệp bằng khai hoang, mở rộng diện tích tưới tiêu đã tạo ra một nền tảng cơ sở cần thiết để đến khi việc thực hiện khoán trong nông nghiệp thì chỉ qua một mùa là lương thực trong nước đã khởi sắc. Nó như chỉ qua một đêm bừng dậy thì trời bật sáng. Bụng đói, quốc gia trống rỗng ruột thì chẳng thể làm cái gì cho ra hồn, chỉ khổ là cái khi...no bụng rồi thì chuyện rậm rật lại nổi lên không thể kiểm soát được ở khắp nơi. Trừng phạt hình thức chuyện này cũng không có tác dụng gì, vấn đề là phương pháp tổ chức nâng cao được hiệu năng và kiểm soát được cơ cấu hành chính theo tiêu chí hiện đại. Việc này đang chuyển động rất chậm chạp vì các lý do nào đó qua các quyết định cho thấy. Dân thì mong rằng cần phải đẩy mạnh hơn việc thực hiện nó.
Gửi bình luận
Họ và tên *
E-mail *
Tiêu đề
Nội dung *
 
 
 
 
 
 
XEM NHIỀU NHẤT
 
 
 
 
 
 
  • Bình Luận

    Bình luận

    20.11 đối với thầy cô giáo là một ngày rất đẹp, đầy ý nghĩa - ngày Tết của nhà giáo. Trước thềm 20.11, các em học sinh, các bậc phụ huynh và toàn xã hội đều hướng về người thầy với niềm tri ân, trân trọng. Cũng như bao thầy cô giáo khác, tôi cũng có những phút giây lắng đọng, ngẫm về người thầy...

  • Quốc Phong

    Nhà báo

    Phát biểu vào chiều 13.11 tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra về dự thảo luật Bảo vệ bí mật nhà nước và dự luật An ninh mạng, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm cho biết đây là 2 dự án luật rất quan trọng, là đòi hỏi của thực tiễn phát triển đất nước và nhằm thực hiện Hiến pháp năm 2013, liên quan đến quyền tự do dân chủ của nhân dân. Đây cũng là vấn đề rất khó, không chỉ với Việt Nam mà với thế giới.

  • Lê Học Lãnh Vân

    Chuyên gia quản trị

    Nếu tưởng thưởng xã hội tỷ lệ nghịch với đóng góp cho xã hội cứ được duy trì công khai trước mắt người dân thì càng về sau thành phần không lương thiện càng lấn át thành phần lương thiện.

  • Quốc Phong

    Nhà báo

    Thật không ai có thể hình dung nổi câu chuyện cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ, quả phụ nhà tư sản dân tộc Trịnh Văn Bô vào những ngày sau Tổng khỏi nghĩa Cách mạng tháng Tám. Khi đó, cụ đã nhận trách nhiệm cực kỳ to lớn trước Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh mà không hề hay biết nhiệm vụ lịch sử.

  • Lê Học Lãnh Vân

    Chuyên gia quản trị

    Một quốc tang sẽ giáo dục lòng nhân ái, lòng quý trọng sinh mạng con người, đoàn kết người ta với nhau trong tình nhân loại, trong thảm họa chung, khiến người ta quyết tâm hơn trong việc ngăn ngừa thảm họa. Quốc tang cho người dân cảm nhận và hiểu rằng sinh mạng của mỗi công dân được quý trọng như nhau.