Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay

Kỳ 84: Tiên tri về tương lai Trung Quốc (I): Những bảo vật trấn địa ở Tào Khê

Những tiên tri về tương lai Trung Quốc có mối liên hệ sâu xa với những tiên tri trong quá khứ tại thắng địa Tào Khê (Quảng Đông) – nơi lực lượng công an thời Mao Trạch Đông phái đến chiếm giữ gây chấn động mạng mạch nơi này vào năm 1951…
Trong các bảo vật trấn địa (được khắc lên tấm bia dựng tại Tào Khê theo sắc chỉ của vua Đường Huyền Tông có “tín y truyền từ Tổ Bồ-đề Đạt-ma với y bát do vua Trung Tôn ban, chơn tượng (Lục tổ Huệ Năng) do Phương Biện đắp (…) thảy đều giao cho người coi tháp chăm sóc giữ gìn, vĩnh trấn Bảo Lâm”.
Bảo Lâm là ngôi cổ tự dựng lên theo lời tiên tri cách đây 1.500 năm của đại sư Trí Dược. Ngài là vị cao tăng ở miền Tây Ấn Độ sang Trung Hoa năm 502, đến suối Tào Khê dừng lại, bụm tay vốc nước uống, khen:

- Nước ở đây ngọt mát chẳng khác gì nước ở Tây Thiên Trúc, vậy thế nào trên nguồn suối này cũng là nơi thắng địa.

Đúng như lời ngài, khi đại sư cùng các đệ tử ngược theo dòng nước lên đầu nguồn, thấy hiện ra dưới tầm nhìn cả vùng núi non xanh biếc với khí chất thanh tịnh lạ lùng. Ngài gọi dân làng Tào Hầu quanh đó lên Tào Khê, báo trước với họ:

- Khoảng 170 năm nữa sẽ có nhục thân Bồ Tát đến nơi này diễn hóa pháp môn vô thượng, giúp số người đắc đạo nhiều như cây rừng. Vậy bây giờ nên lập một cảnh chùa, đặt tên là Bảo Lâm (đắc đạo giả như lâm, nghi hiệu Bảo Lâm).

Vị quan địa phương đem chuyện ngài Trí Dược tâu về triều. Vua Lương Võ Đế chấp thuận, sai lập một ngôi chùa ở Tào Khê và ban cho tấm biển ghi tên chùa: Bảo Lâm (tức chùa Nam Hoa).

Quả nhiên hơn 170 năm sau, Lục tổ Huệ Năng (vị Tổ thứ 6 của Thiền tông Trung Hoa và là vị Tổ thứ 33 truyền trực tiếp từ Đức Phật Thích-ca Mâu-ni xuống) đến chùa Bảo Lâm năm 677, khai pháp môn vô thượng cứu người.
Khi diễn nói về “Vô thượng đại niết-bàn – Viên-minh thường tịch chiếu”, ngài có nhắc đến tai họa trong “kiếp hỏa” (kiếp lửa bừng cháy thiêu hủy tất cả) như sau: Kiếp hỏa thiêu đáy biển – Gió thổi núi va nhau (Kiếp hỏa thiêu hải để – Phong cổ sơn tương kích). Nghĩa là sẽ đến thời nào đó lửa nóng bao trùm khắp nơi, nước dưới đáy biển sôi lên sùng sục, gió thổi các ngọn núi bay lên khỏi mặt đất va chạm vào nhau vỡ nát. Tất cả sẽ được báo trước bằng những cơn động đất, cái chết đầy trời, hiếm ai còn sống sót.

Về cảnh động đất (giữa thế kỷ 20) được hòa thượng Hư Vân – người chỉnh sửa phong thủy, xoay lại hướng chảy của dòng sông trước mặt Tào Khê (chùa Nam Hoa) thuật lại:

* Động đất ở Côn Minh: “lúc 12 giờ đêm ngày mồng hai tết, tháng giêng năm Nhâm Tý (1912) bỗng xảy ra trận động đất dữ dội: tường thành, nhà cửa, phòng ốc… đồng loạt đổ sạch, người chết rất nhiều (…) tôi cũng đi theo, cùng mang dụng cụ đến để phụ đào lấy thây người trong đống đổ nát. Trải qua 5 ngày, số thi thể người lớn, trẻ em lấy ra được tổng cộng hơn 800. Trong đó có 84 cặp vợ chồng đang ngủ bị nạn. Có đôi vợ chồng bị chôn vùi nằm dưới đống đổ nát ngót mấy ngày, vậy mà khi được cứu lên vẫn còn sống và chẳng hề bị chút thương tích”.

* Động đất ở Đại Lý: Năm 1914, lúc hòa thượng Hư Vân 75 tuổi đã “sang biên giới Tây Tạng tham quan 13 ngôi chùa của các vị lạt-ma”. Ngài viết: “năm này tôi đang giảng kinh tại Long Hoa Sơn, thì 4 huyện trong phủ Đại Lý phát sinh địa chấn kinh hồn. Tại Đại Lý là nặng nhất: nhà cửa thành quách đều nhất loạt sụp đổ không còn gì. Chỉ có chùa viện, bảo tháp là không đổ, vẫn đứng yên như cũ.
Trong cơn địa chấn, đất rung chuyển nứt nẻ trầm trọng, còn phát sinh lửa cháy ngùn ngụt tràn lan. Người ta tranh nhau chạy lánh nạn, thì dưới chân đất bỗng nứt ra, làm họ bị lọt xuống mắc kẹt trong đó, họ cố hết sức trèo lên, nhưng vừa ló được cái đầu thì đất liền khép lại, cắt đầu đứt lìa thân thể họ, nằm mắc lại trên đất. Cảnh tượng hãi hùng nhìn giống như người đang sống mà bị hãm trong địa ngục lửa thiêu, thảm đến mắt chẳng nỡ nhìn.

Mấy ngàn hộ dân trong thành tử nạn gần hết, sống sót rất ít. Trong đây có hai tiệm vàng: Tiệm Vạn Xương của họ Triệu và tiệm Trạm Nhiên của họ Dương - khi lửa cháy đến nhà hai gia đình này thì tự tắt. Chỗ họ ở cũng không hề bị địa chấn. Nhân khẩu mỗi nhà có mấy mươi người, nhưng tất cả đều bình an vô sự. Nguyên do là hai họ này, đời đời ăn chay trường và hay làm phước bố thí nên mới chiêu cảm được quả lành hy hữu như vậy. Ai biết chuyện cũng đều xúc động” (Hư Vân niên phổ - sđd Kỳ 49-50-51, tr. 131 & 134).

Chuyện quá khứ là vậy. Chuyện tương lai cũng được thiền sư Hư Vân báo trước. Tiên tri cũng từa tựa như những “chuyện khó tin”, song nhiều chuyện khó tin đã “là sự thật”. Xưa kia, ngài Di Lặc nói: trong một cái búng ngón tay có đến 32 triệu tế niệm (tức là những ý nghĩ vi tế khởi lên trong tàng thức của mỗi người). Trước con số khổng lồ như vậy, không một ai có thể kiểm tra hoặc kiểm soát được chúng bằng kinh nghiệm giác quan, bề dày tri thức, hoặc bằng nghị lực thông thường của mình được. Cũng như không ai có thể nhìn thấu suốt đường đi của ánh sáng đang di chuyển trước mặt mình với một tốc độ “siêu nhanh”: hơn 330.000km trong một tích tắc giây. Các tiên tri nảy sinh từ những chiêm nghiệm bên ngoài (kết hợp chiêm tinh học) như ở Tây Tạng. Nhưng, tiên tri cũng có thể xuất phát từ bên trong tự tánh như trường hợp kể trên ở Trung Quốc (đại sư Trí Dược). Thêm một trường hợp khác, ngài Huệ Năng báo trước:

“Sau khi ta tịch diệt chừng 5-6 năm, sẽ có một người đến lấy đầu ta. Hãy nghe lời sấm này: Đầu thờ cha mẹ – Miệng cần miếng ăn – Gặp nạn tên Mãn – Dương, Liễu làm quan (Đầu thượng dưỡng thân – Khẩu lý tu san – Ngộ Mãn chi nạn – Dương, Liễu vi quan).

Sau khi Ngài nhập tháp (năm 713), tới năm Khai Nguyên thứ 10 (Nhâm Tuất 722, đời vua Đường Huyền Tông), nhằm nửa đêm ngày mùng 3.8, thình lình nghe trong tháp như có tiếng kéo dây sắt. Chúng tăng giật mình thức dậy, ngó thấy một người từ trong tháp chạy ra. Tìm thấy có vết thương từ nơi cổ sư, liền đem chuyện kẻ trộm trình lên châu huyện (…) ngày thứ 5, bắt được tội phạm”, khai tên Trương Tịnh Mãn “có nhận hai chục ngàn quan tiền của một vị Tăng xứ Tân La (thuộc Cao Ly, Triều Tiên ngày nay) để đi lấy trộm đầu của Lục tổ đại sư đưa cho vị ấy đem về xứ lễ bái cúng dường” (Pháp bảo đàn kinhĐoàn Trung Còn và Huyền Mặc Đạo Nhân đồng dịch, Phật học tòng thư Sài Gòn 1972 – NXB Tôn giáo Hà Nội 2002).

Rõ ràng, lời sấm của ngài Huệ Năng ứng với việc Trương Tịnh Mãn (gặp nạn tên Mãn) đến lấy trộm đầu nhằm thời Dương Khản làm huyện lệnh và Liễu Vô Thiểm làm thứ sử (Dương, Liễu làm quan). Các tiên tri trên được nhắc đến trong Pháp bảo đàn kinh – cuốn sách (pháp ngữ) duy nhất được gọi là Kinh – ghi chép những lời dạy của Lục tổ Huệ Năng về pháp vô thượng – vẫn đang được lưu giữ, hoặc đọc tụng, giảng giải tại tất cả các ngôi chùa theo thiền tông hiện nay ở Trung Quốc và Việt nam.
Còn ở Tây Tạng, các câu tiên tri được khắc trên đá thường kèm theo hình vẽ vị trí các ngôi sao với những giải đoán về đường đi của các ngôi sao đó qua “bầu trời tương lai”. Ở đây, theo chỗ chúng tôi được mách bảo, vào một ngày Thìn, khi chòm sao Thiên Bình (Libra) bất ngờ di chuyển lệch qua hướng đông quá giới hạn bình thường và sao Cang Kim Long bị cuốn hút về phía chòm Trinh Nữ (Virgo) – thì dưới đất sông Trường Giang như con rồng khổng lồ nằm ngủ trên nền lục địa Trung Hoa thức giấc, quẫy mình. Con sông dài nhất của Trung Quốc này sẽ dậy sóng, mở đầu tai họa của một trận “hồng thủy” tràn ngập chân trời… (còn nữa)

­GIAO HƯỞNG

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT

Bình luận0


Loading...

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.