ngày 22 tháng 09 năm 2017
Tiếng Việt tôi yêu
 

Tại sao lão Hạc gọi con chó vàng là cậu?

In bài viết
Lão Hạc và cậu Vàng - Tranh từ nguồn internet
  Truyện ngắn Lão Hạc ra đời vào thời kỳ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945. Có thể coi đây là truyện hay nhất của nhà văn Nam Cao, rất sinh động về một trường đoạn trong bức tranh hiện thực thê thảm nông thôn Việt Nam thời ấy, về người nông dân bần cùng, bị vùi dập phũ phàng, nhưng trong sạch, hiền lành và trung hậu.

Cốt truyện Lão Hạc không phức tạp. Đây là câu chuyện rất khó kể, hoặc chưa kể đã hết chuyện. Chỉ là chuyện về ông lão nghèo cô đơn làm bạn với một con chó. Tình cảnh khốn quẫn, lão đành bán con chó và cuối cùng tự sát, bởi vì chỉ có bán chó và chết đi mới khỏi ăn vào chút gia sản ít ỏi mà lão muốn trao lại nguyên vẹn cho con… Truyện chỉ có thế, nhưng dưới ngòi bút tài hoa của nhà văn, những biến cố trong đoạn đời này của nhân vật cứ khiến người đọc day dứt xót thương khôn nguôi và để lại những ám ảnh về thân phận con người.

Truyện không có nhiều nhân vật. Cùng đi trong suốt truyện với nhân vật chính - lão Hạc,  là "tôi" - ông giáo láng giềng và cũng là người kể chuyện. Thấp thoáng đây đó có bóng dáng con trai lão Hạc, có vợ ông giáo, có binh Tư… Và có lẽ đặc biệt nhất, ấn tượng nhất, là "người bạn" tri kỷ thân thiết, vừa là chỗ dựa tinh thần vừa phần nào là nguyên cớ dẫn đến bi kịch của lão Hạc - cậu Vàng.

Trong tiếng Việt, từ cậu (vốn chỉ em trai của mẹ) trước đây còn được dùng để chỉ hoặc gọi người con trai nhà giàu sang với ý coi trọng. Như ông giáo trong truyện nhận xét rằng lão Hạc "gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự".

Đằng sau cách gọi cậu Vàng (và cậu, cậu ấy) là một nỗi khát khao tự nhiên của lão Hạc: Trong cô quạnh và tủi cực, lão muốn có cháu nội và mong được làm ông, muốn có chỗ nương tựa và sự an ủi lúc tuổi già. Lão gắp thức ăn cho nó, trò chuyện, chửi yêu, sừng sộ nạt nộ và rồi dỗ dành…, như đối với một đứa cháu bé:

  - Cậu có nhớ bố cậu không? Hả cậu Vàng?… Nó mà về, nó cưới vợ, thì nó giết cậu. Liệu hồn cậu đấy!

  - Nó giết mày đấy! Mày biết không? Ông cho thì bỏ bố!

  - Mừng à? Vẫy đuôi à? Vẫy đuôi thì cũng giết! Cho cậu chết!

  - À không! À không! Không giết cậu Vàng đâu nhỉ!… Cậu Vàng của ông ngoan lắm! Ông không cho giết… Ông để cậu Vàng ông nuôi…

Trong tiếng Việt, cách nhân hóa nhằm đưa sự vật không phải người sang thế giới loài người như vậy, căn cứ trên sự liên tưởng chủ quan nhằm phát hiện (hoặc gán cho) những nét giống nhau giữa sự vật đang nói đến và con người. Khi được khoác cái áo của người, thì vật được nhân hóa trở nên có những phẩm chất của con người, biết suy nghĩ, cư xử, thậm chí có khi còn biết nói năng và biết nghe như người. Và nó có một tên riêng, được viết hoa như tên người. Trong sự hình dung theo cách nhân hóa như thế, "cậu Vàng" đã trở thành tri kỷ của lão Hạc. Trò chuyện với con chó, lão nói đủ điều, cả những điều đang khắc khoải day dứt trong lòng lão, nghĩ rằng nó hiểu tất cả và đáp lời theo cách riêng của nó.

Một đặc điểm trong ngôn từ của lão Hạc là mang đậm tính khẩu ngữ tự nhiên, dân gian mộc mạc, và điều đó góp phần khắc họa nên tính cách chất phác của ông lão nông dân này. Đặc tính khẩu ngữ tự nhiên như vậy được bộc lộ qua cách sử dụng các từ ngữ giàu hình ảnh trực quan sinh động và nhiều hư từ nhằm biểu đạt những nét tình thái đa dạng, các kết cấu cú pháp không chặt chẽ, sự tỉnh lược và dư thừa do lặp lại, sự thay đổi ngữ điệu, sự ngập ngừng, và cả cách gọi con chó rất gợi cảm là cậu Vàng… Trong đó, rất đáng chú ý là mạch hội thoại nhiều khi bị đứt quãng khi đuổi theo dòng suy tư, đề tài trong các cuộc hội thoại thường chuyển đổi như tùy tiện và có vẻ lan man lê thê…, để rồi cuối cùng luôn trở lại với nỗi mong chờ đứa con và về số tài sản lão định dành cho nó.

Ngay từ đoạn mở đầu, người đọc đã chứng kiến cảnh "lão đang nói chuyện con chó, lại nhảy vọt sang chuyện thằng con". Ở đoạn sau đó, lão hỏi con chó xem có nhớ "bố" không, rồi kể rằng lâu lắm "bố cậu" không có thư về, rồi lại nhẩm tính xem ba năm hay ngót bốn năm "bố cậu" không có thư, và rồi phỏng đoán cuối năm nay không biết "bố cậu" có về không… Theo cái đà suy tưởng ấy, lão đột ngột nói đến chuyện cưới vợ của con, để rồi dọa rằng nếu cưới vợ thì nó sẽ giết "cậu"… Lúc sau, đang dỗ dành "cậu Vàng", thì lão lại ngẩn mặt ra thở dài, tính tiền bòn vườn cho con…

Trong những câu nói của lão Hạc, có những chỗ ngập ngừng (trên chữ viết ghi bằng dấu ba chấm (…). Đó là những dấu hiệu ngôn từ thể hiện nội tâm bâng khuâng buồn bã và khắc khoải: Có lúc lão nói với con chó lại xen lẫn lẩm nhẩm độc thoại, có khi nói về "cậu Vàng" mà lại nghĩ đến đứa con trai.

Những lời lẽ âu yếm, cách rỉ rả tâm tình, những nạt nộ và dỗ dành thân thiết của lão Hạc đối với "cậu Vàng"…, như những tiếng sấm ì ầm báo trước cơn giông bão, đẩy sự hụt hẫng khi thiếu vắng con chó và sự dằn vặt vì đã trót lừa một con chó của lão lên đến tột đỉnh, như sẽ gặp ở ngay đoạn sau. Hơn thế nữa, những mảnh hội thoại này còn ngầm biểu lộ cả tình cảnh éo le của ông lão, với chút niềm vui nhất thời mong manh để bấu víu bên cạnh nỗi cô đơn cay đắng trong khắc khoải trông đợi triền miên…

Truyện Lão Hạc sở dĩ làm cảm động lòng người, vì qua ngôn từ như thế nhà văn đã hàm ẩn sự cảm thông và tình yêu thương da diết đối với những thân phận đắng cay, cơ cực, tủi hờn. Đó là những thân phận trong bi kịch của nhân sinh muôn đời, như lời của nhân vật trong truyện: "Ấy! Sự đời lại cứ thường như vậy đấy!".

Để rồi mỗi lần nhắc đến lão Hạc và "cậu Vàng", ta lại như thấy một chiều nắng hiu hắt. Thấy trong lòng quạnh vắng, và có gì đâu đây như thể một nỗi buồn...

Tạ Văn Thông

 
hotline
Quảng cáo: 091 2161163
Nội dung: 090 186 3399
 
TIN LIÊN QUAN
 
 
 
Bình luận 0
Chưa có bình luận nào cho bài viết này.
Gửi bình luận
Họ và tên *
E-mail *
Tiêu đề
Nội dung *
 
 
 
 
 
 
XEM NHIỀU NHẤT
 
 
 
 
 
 
  • Đoàn Đạt

    Nhà báo

    Mấy ngày qua, câu chuyện về một bà mẹ ở Lào Cai chỉ vì 7.000đ mà dồn hai đứa con ruột của mình vào chỗ chết không khỏi khiến cho nhiều người đau lòng, ám ảnh. Một câu chuyện tưởng như không còn xuất hiện ở thời nay…

  • Bình Luận

    Bình luận

    Có nhiều người được cử đi học sau đại học, lôi về tấm bằng thạc sĩ, tiến sĩ thì nghiễm nhiên tự phong cho mình là giỏi, xem những người còn lại chẳng ra gì. Không phải tôi bi quan, nhưng ở nước ta dường như khoảng cách giữa bằng cấp và thực học vẫn còn xa lắm.

  • Quốc Phong

    Nhà báo

    Trong công tác quản lý nhà nước, nhiều khi chúng ta "nói vậy nhưng lại không làm vậy" để rồi “cái sảy nảy cái ung". Đến khi muốn xử lý khi biết có chuyện không bình thường hoặc buộc phải xử lý để xã hội phát triển thì khi đó mới lòi ra những bất ổn khó hiểu, thậm chí là hậu quả khôn lường từ những nhiệm kỳ trước để lại. Vì thế, những vị lãnh đạo kế tục đã và sẽ gặp khó.

  • Bình Luận

    Bình luận

    Đồng tiền lẻ đang phát huy sức mạnh bé mọn của nó, nhưng phát huy kiểu này thì chả ai mong muốn, kể cả nhà chức việc, nhà đầu tư lẫn giới tài xế, chủ xe. Người ta ai cũng chỉ mong có sự hợp lý trong mọi sự, nếu phải trả phí thì trả đúng đồng tiền bát gạo.

  • Bình Luận

    Bình luận

    Đồng phục đưa học sinh vào khuôn khổ, thử thách học sinh rèn luyện trong môi trường tập thể, nhưng “đồng phục” một cách máy móc, thái quá vô hình trung làm cho các em mắc chứng rập khuôn, phản xạ theo kiểu “rô-bốt”, bấm nút là chạy theo “lập trình”.