ngày 22 tháng 08 năm 2017
Tiếng Việt tôi yêu
 

Những lỗi sai phổ biến khi dùng từ Hán Việt

In bài viết
  Lớp từ Hán Việt thường có sắc thái trang trọng, trong khi lớp từ thuần Việt lại bình dân và sinh động hơn. Nhiều từ Hán Việt đã được Việt hóa thông dụng, có từ đã biến đổi ý nghĩa.

Khi từ gốc Hán được 
Việt hóa

Nhiều người dùng mượn hình thức ngữ âm của từ Hán rồi thay đổi nghĩa, thu hẹp nghĩa, cho thêm nghĩa mới.

Ví dụ, “phương phi” nghĩa Hán là “hoa cỏ thơm tho”, người Việt hiểu sang “béo tốt”.

Tương tự, “khôi ngô” nghĩa “to lớn, cao to” sang nghĩa “mặt mũi sáng sủa, dễ coi”; “bồi hồi” nghĩa “đi đi lại lại” sang nghĩa “sự xúc động”; “đinh ninh” nghĩa “dặn dò” sang nghĩa “tin chắc, yên chí”; “lang bạt kỳ hồ” nghĩa “lúng túng, quanh quẩn tại chỗ” sang nghĩa “lang thang khắp nơi khắp chốn” (theo Đặng Đức Siêu, Ngữ văn Hán Nôm)...

Từ “khuyến mãi” nay dùng thành “khuyến mại”. Cụm từ “kích thích nhu cầu tiêu dùng” rút thành “kích cầu” - từ này đang dần được chấp nhận. Từ “yêu cầu” là một động từ. Nhưng hiện từ “yêu cầu” hay được dùng với nghĩa danh từ. Ví dụ: “mục đích yêu cầu”...

Từ “đáo để” trong tiếng Hán có nghĩa là “đến đáy”, nhưng khi đi vào tiếng Việt nó lại có nghĩa là cách cư xử không đẹp, khiến người ta khó gần; hoặc có khi nó được dùng làm tiếng đệm nhằm nhấn mạnh ý nghĩa của tính từ giống như các từ chỉ mức độ “vô cùng”, “rất”, “lắm”... (theo Hữu Đạt, Sai, đúng trong cách dùng từ Hán Việt và vấn đề "giải pháp").

Trên thực tế, các từ gốc Hán khi du nhập vào tiếng Việt hầu hết đã bị biến đổi do áp lực của cấu trúc tiếng Việt.

Chỉ sau một thời gian, bản chất Hán của các từ này đã bị tiếng Việt đồng hóa để không còn cái vẻ nguyên dạng ban đầu. Hoặc là nó bị biến đổi về ngữ âm, hoặc là nó bị biến đổi về ngữ nghĩa theo cách tri nhận mới của người Việt Nam qua cái vỏ âm thanh ban đầu. Hoặc nhiều tiếng Hán Việt bị hiểu sai; lâu dần, cái nghĩa hiểu sai được phổ biến hơn nghĩa tinh xác và do đó được công nhận là nghĩa đúng (theo Bùi Đức Tịnh, Ngữ pháp Việt Nam giản dị và thực dụng).

Những lỗi thường gặp

Nhiều trường hợp người sử dụng chưa nắm được nghĩa của từ Hán Việt, khiến từ trở nên vô nghĩa hoặc dẫn đến sai trầm trọng.

Dùng từ sai vì không hiểu nghĩa gốc Hán Việt: nhầm lẫn giữa hai từ “khả năng” - năng lực của con người có thể làm được việc gì đó với “khả dĩ”. Từ “quá trình” là đoạn đường đã đi qua: “quá” là đã qua, “trình” là đoạn đường. Nếu viết từ “quá trình” dùng ở thì tương lai “quá trình thực hiện công tác sắp tới của tôi sẽ rất thuận lợi” là sai.

Có thể dùng từ “tiến trình” cho câu trên. Ta có thể viết “hôn lễ” (lễ cưới), “hôn phối” (lấy nhau). Nhưng nếu nói hôn phu, hôn thê, hôn quân lại mang nghĩa là người chồng u mê, người vợ u mê, nhà vua u mê...

Sai vì không phân biệt được tiếng Hán Việt với tiếng thuần Việt (tiếng Nôm): chữ “góa phụ” trong sách báo chỉ người đàn bà có chồng đã chết. Tính từ “góa” là tiếng Nôm không thể đặt trước danh từ “phụ”. Nên gọi là gái góa (toàn Nôm), hay “quả phụ” (toàn Hán Việt).

Từ “nữ nhà báo” thường được dùng trên các phương tiện truyền thông. Nhà báo là tiếng Nôm nên phải dùng văn phạm xuôi là “nhà báo nữ”, hoặc dùng ba từ Hán Việt là “nữ ký giả” hay “nữ phóng viên”.

Lạm dụng và dùng sai từ Hán Việt khá phổ biến khi kết hợp từ “tặc” (ăn cướp) với các từ khác như: tôm tặc, vàng tặc, cà phê tặc, đinh tặc... để chỉ những tên ăn trộm.

Cách dùng này sai về ngữ pháp (từ đơn thuần Việt không thể ghép với một từ đơn Hán Việt để thành một từ kép), sai về nghĩa: tặc là ăn cướp, đạo là ăn trộm. Thay vì sính dùng từ Hán Việt, ta có thể nói là: bọn ăn trộm tôm, trộm vàng, trộm cà phê...

Hiện từ “đinh tặc” đang được nhiều báo chí dùng với tần suất lớn với nghĩa chỉ bọn rải đinh trên đường, trong khi “đinh tặc” chỉ có nghĩa là bọn ăn cướp đinh, chỉ bọn rải đinh trên đường là sai nghĩa...

Nhiều từ Hán Việt hiểu sai nên viết sai: từ “tham quan” nghĩa là đi chơi để ngắm cảnh thay từ “thăm quan”; “chấp bút” viết thành “chắp bút”, “lặp lại” viết thành “lập lại”, “trùng lặp” viết thành “trùng lắp”, “hằng ngày” viết thành “hàng ngày”, “thập niên” viết thành “thập kỷ”, “điểm yếu” thành “yếu điểm”...

Tất nhiên, khi xem xét tới tính sai, đúng của việc dùng từ Hán Việt, việc đối chiếu từ nguyên là việc làm có phần cứng nhắc, dễ dẫn đến việc làm mất đi tính năng động của từ Hán Việt với tư cách là một sự sáng tạo rất linh hoạt của người Việt Nam.

Từ Hán Việt tuy có nguồn gốc từ tiếng Hán, nhưng nó đích thị hoàn toàn là của người Việt Nam, được dùng theo cách của người Việt Nam. Nên hiểu đúng và dùng đúng ngữ nghĩa của từ Hán Việt là chúng ta đang góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, bổ sung, làm giàu thêm vốn từ vựng phong phú, nối dài nét đẹp văn hóa và chữ viết của người Việt.

Vai trò của báo chí trong chuẩn hóa và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt có ý nghĩa quan trọng. Bởi tiếng Việt là một trong số gần 50 ngôn ngữ đang được sử dụng rộng rãi nhất trái đất. Không phải tự dưng tiếng Việt có thể tồn tại và phát triển, trong khi đã có hàng ngàn ngôn ngữ và chữ viết của các dân tộc bị hủy diệt theo dòng chảy phát triển của nhân loại.

                                               Nhiều người dùng chưa nắm được nghĩa từ Hán Việt

Từ Hán Việt là một loại từ đặc biệt trong vốn từ vựng tiếng Việt, là một bộ phận rất quan trọng của kho từ vựng tiếng Việt.

Lớp từ Hán Việt có khối lượng lớn, được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, nghệ thuật...

Tuy nhiên, theo thống kê sơ bộ của khoa ngôn ngữ, có tới 16 hình thức sử dụng sai từ Hán Việt khá phổ biến hiện nay như: sai vì không hiểu gốc Hán Việt, sai vì cố ý sửa gốc của từ, sai vì không hiểu văn phạm giữa Hán Việt và Hán Nôm, sai vì dùng từ thiếu chính xác ngữ cảnh; dùng sai nghĩa từ thuần Việt lại tưởng từ Hán Việt, dùng từ Hán Việt vô nghĩa và lộn xộn, cóp y nguyên tiếng Tàu đang sử dụng và coi đó là từ Hán Việt, đảo ngược ngữ pháp hay cấu trúc từ Hán Việt, đảo từ ghép Hán Việt sai và không đúng cách, thiếu từ cho các thuật ngữ khoa học công nghệ hay chuyển nghĩa từ ngoại ngữ phương Tây sang...

Theo Lê Thị Bích Hồng/Tuổi Trẻ

 

 
hotline
Quảng cáo: 091 2161163
Nội dung: 090 186 3399
 
TIN LIÊN QUAN
 
 
 
Bình luận 2
08/02/17PHẢN HỒI
Lại thêm một trường hợp bàn về từ Hán Việt mà chưa nắm chắc được chữ Hán Việt(!). Hán Việt là một loại từ phổ biến, chiếm tỉ lệ rất cao trong ngôn ngữ lẫn văn bản tiếng Việt hiện đại. Đó là dấu tích ảnh hưởng từ văn hóa Hán ở các quốc gia Đông Á như Nhật Bản [ví như Đông (To)+ Kinh (kyo) thành tên thủ đô Nhật là Tokyo]; Cao Ly [như Hiện (Hyun)+ đại (dai) thành Hyundai - Hiện đại] , Việt Nam [như từ Hán Việt]...Thế nhưng khi có ý kiến nên đưa chữ Hán vào chương trình giáo dục bậc phổ thông như các nước Nhật, Hàn nhằm giúp học sinh nắm bắt được khái niệm, từ ngữ Hán Việt để dùng đúng tiếng Việt thì không ít người phản ứng. Nhìn chung, các ý kiến phản ứng đó hoặc cho chữ Hán là của người Hán, phải thoát Hán (đúng, nhưng quên rằng ông bà ta đã dùng chữ Hán không đọc bằng âm Hán mà bằng âm Việt, rồi việc sáng tạo ra chữ Nôm - thuần Việt - trên chất liệu chữ Hán... đã thể hiện ý thức độc lập dân tộc và tinh thần thoát Hán rất cao, rất lâu đời); hoặc cho rằng chương trình giáo dục phổ thông của chúng ta đang quá nặng, không nên bắt học sinh mang thêm gì nữa! Điều này cũng rất đúng, không chỉ nặng với học sinh phổ thông của nước mình mà còn nặng so với thế giới, với các quốc gia tiên tiến nữa. Nhưng thực ra nặng, vừa hay nhẹ là do nhận thức của người có trách nhiệm khi lập chương trình, bỏ hoặc giảm tri thức chưa cần thiết để tiếp nhận một tri thức cần thiết hơn, sao lại không! Điều đáng quan tâm nhất trong số ý kiến phản ứng với vấn đề học chữ Hán là hầu như rất ít người hiểu đúng về chữ Hán, từ Hán Việt, từ gốc Hán, chữ Nôm, chữ Hán - Nôm...cứ gì thuộc các khái niệm đó đều cho là xưa cũ, lạc hậu, thiếu tính hiện đại ...không nên khơi lại nữa mà quên rằng chúng có một vai trò vô cùng quan trọng trong nền văn hóa lâu đời của dân tôc. Rất hay là người bạn tôi đưa vấn đề học chữ Hán ra, chỉ một thời gian rất ngắn đành phải xin xếp lại, không thể nào biện giải nổi với những cách hiểu như đã nói. Thì thôi, tự bảo nhau mình sử dụng từ Hán Việt sao cho đúng, chỉ bảo và động viên học trò mình dùng cho đúng, chừng đó cũng đủ tự an ủi rồi. Vậy thôi, buồn thay!!!
17/11/16PHẢN HỒI
Tác giả (không rõ có phải là bà Lê Thị Bích Hồng, hay bà Bích Hồng là người trích đăng thôi?) viết: “Nhưng nếu nói hôn phu, hôn thê, hôn quân lại mang nghĩa là người chồng u mê, người vợ u mê, nhà vua u mê...”. Chết mất thôi, sao tác giả lại giải thích bừa (xin lỗi, tôi không muốn dùng chữ “bậy”) như vậy?. Trong chữ Hán, “hôn” có tới 11 chữ viết, với nhiều nghĩa khác nhau; chỉ xin đề cập tới 2 chữ viết liên quan ở đây. 1) 婚, từ điển phổ thông cho nghĩa: cưới; lễ cưới; bố vợ. 2) 昏 hoặc 昬 : bóng tối; lúc sẩm tối; mê muội; đứa con chưa kịp đặt tên mà chết. Chữ “hôn lễ” (婚礼) hiển nhiên là theo chữ “hôn” thứ 1. Các đối tượng dính dáng đến hôn lễ như “người chồng, người vợ” tất nhiên cũng là chữ “hôn” này và được gọi là “hôn phu, hôn thê” (婚夫, 婚妻). Còn “hôn quân” thì mới đúng là sử dụng chữ “hôn” thứ 2, viết 昏君: nhà vua u mê, mê muội. / Cũng xin được nói thêm: Chữ “hôn lễ” nguyên thuỷ cũng dùng chữ “hôn” thứ 2 (viết 昏礼) bởi lẽ ngày xưa các đám cưới đều làm vào buổi tối, “hôn lễ” nghĩa là “cuộc lễ vào buổi tối”; nhưng sau nó đươc thay bằng chữ “hôn” thứ 1 (thêm bộ “nữ” 女vào bên trái chữ “hôn” thứ 2). (Nên chăng, Quí Toà soạn nên gửi các chuyên gia nhờ biên tập chu đáo các bài viết trước khi đăng báo, kẻo sẽ rất tai hại cho công chúng khi đọc và tiếp thu, bởi chuyên mục “Tiếng Việt tôi yêu” theo tôi là rất quan trọng. Kính!).
Gửi bình luận
Họ và tên *
E-mail *
Tiêu đề
Nội dung *
 
 
 
 
 
 
XEM NHIỀU NHẤT
 
 
 
 
 
 
  • Quốc Phong

    Nhà báo

    Giáo viên hiện nay đời sống cực kỳ khó khăn. Loại được hưởng lương trong biên chế tuy ít ỏi nhưng cũng còn là may mắn. Có những giáo viên ở nông thôn, lương chỉ là thứ phụ cấp vài trăm ngàn/tháng (giáo viên mẫu giáo...) thì xin hỏi họ sống sao nổi nếu không có nghề phụ? Trách nhiệm của nhà nước ở đây là cần có cách xử lý thật thấu đáo chuyện này nếu không muốn đất nước bị tụt hậu về tri thức.

  • Bình Luận

    Bình luận

    Nếu băm nhỏ các con đường BOT để lắp trạm thu phí dày đặc hơn thì tất nhiên dòng xe cộ sẽ phải lưu thông chậm chạp hơn vì chốc chốc lại phải dừng trạm trả phí ở khoảng cách quá gần. Nếu đặt trạm dày như vậy thì BOT hóa ra lại cản trở tốc độ phát triển kinh tế xã hội, chứ không còn thúc đẩy nữa.

  • Phạm Quang Long

    PGS-TS

    Đường sá nói chung là tài sản quốc gia, nhà nước giao cho ông GTVT quản. Ông quyết định đầu tư đường nào, chọn hình thức nào, đặt trạm thu phí ở đâu, được thu trong bao nhiêu năm... đều được dân giao cho ông quyết cả. Thế mà ông phụ lòng tin của dân.

  • Đoàn Đạt

    Nhà báo

    Cuộc 'khủng hoảng tiền lẻ' ở trạm thu phí Cai Lậy vẫn chưa đến hồi kết mà còn có “khả năng lây lan” như lo ngại của Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Thường vụ quốc hội Nguyễn Văn Giàu. Câu hỏi được đặt ra là: Ai là người chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng này và cả khả năng có thể lây lan của nó?

  • Lê Học Lãnh Vân

    Chuyên gia quản trị

    Đây là tranh chấp giữa nhà đầu tư yêu cầu dân trả tiền, còn dân không chịu trả tiền vì cho rằng mình dùng đường cũ, không dùng đường mới do nhà đầu tư xây. Nhà đầu tư thấy mình có lý theo quy định về BOT thì cứ đưa sự việc ra thuyết phục công luận, hay kiện ra tòa xét xử công khai và công minh. Có đâu lại mật báo thông tin của người đang tranh chấp với mình?