ngày 26 tháng 05 năm 2017
Giáo dục
 

Tỉ lệ sinh viên ra trường có việc làm tại các trường ĐH lên tới 90%

In bài viết
Việc công bố việc làm của sinh viên tốt nghiệp không phải dễ dàng ở bất cứ một trường ĐH nào
  Ngày 23.2, sau khi trường ĐH Bách Khoa, ĐH Công nghệ Đồng Nai công bố tỉ lệ có việc làm của sinh viên sau khi ra trường khiến nhiều học sinh, phụ huynh chú ý.

Tỷ lệ sinh viên có việc làm tại các trường uy tín tăng cao

Theo số liệu khảo sát của Phòng công tác chính trị, sinh viên - ĐH Bách Khoa Hà Nội thực hiện từ tháng 12.2016 tới tháng 1.2017 cho biết tỉ lệ sinh viên Bách Khoa ra trường có việc làm lên tới 91%, 4% là học tiếp lên cao học và 5% chưa có việc làm.

Mức lương trung bình đạt 8,2 triệu đồng/tháng. Phổ lương từ 3 triệu đồng/tháng (Cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu..) - 60 triệu đồng/tháng (công ty nước ngoài…).

Theo ông Nguyễn Phong Điền, Trưởng phòng Đào tạo, ĐH Bách khoa Hà Nội cho hay việc thống kê này đã được trường triển khai từ nhiều năm trước đó, năm nay trường đã làm một cách bài bản hơn. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc kết nối với sinh viên.

“Bấy lâu nay việc kết nối giữa sinh viên đã tốt nghiệp và nhà trường khá manh mún nên với những yêu cầu chi tiết, bài bản như Bộ yêu cầu là khó với nhiều trường. Địa điểm của người đi làm có thể tìm ra được, nhưng chi tiết đánh giá mối quan hệ giữa kết quả đào tạo và tình trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp tôi tin sẽ là khó khăn.

Cần có những khảo sát quy mô để đánh giá đúng thực trạng phục vụ cho công tác tuyển sinh. Chính vì thế để thực hiện thành công khảo sát này, nhà trường đã huy động các đơn vị cũng như phòng công tác sinh viên làm số liệu khảo sát một cách chính xác nhất.” - ông Nguyễn Phong Điền nhấn mạnh.

Trường ĐH Công nghệ Đồng Nai thường xuyên mở những buổi tuyển sinh, tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho các em học sinh cũng như sinh viên trong trường về tình hình thực tế của xã hội

Cũng như trường ĐH Bách Khoa Hà Nội, tại trường ĐH Công nghệ Đồng Nai - Hiệu trưởng nhà trường, Tiến sĩ Phan Ngọc Sơn cho hay: "Các sinh viên ngay sau khi tốt nghiệp của trường ĐH Công nghệ Đồng Nai thường được các doanh nghiệp trên địa bàn tuyển dụng ngay và trong những năm gần đây, nhà trường tuyển sinh thường theo những đơn đặt hàng của các doanh nghiệp.

Tỷ lệ sinh viên của nhà trường ra trường có việc làm luôn chiếm tới 95%, tỷ lệ sinh viên học tiếp lên cao chiếm từ 2-3%, số còn lại là các sinh viên làm trái ngành. Với đặc thù là một trường được đặt trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, việc cung cấp các sinh viên ra trường tới các doanh nghiệp hay với tỉnh Đồng Nai hiện nay vẫn đang trong tình trạng...cung không đủ cầu.

Công việc khảo sát sinh viên ra trường có việc làm do chính ban truyền thông của nhà trường cùng với phòng công tác sinh viên thực hiện, do đó mùa tuyển sinh năm 2017 này, mọi thống kê đều chính xác, tin cậy để nhà trường mở rộng quy mô tuyển sinh, đăng ký thêm với Bộ GD-ĐT để mở các mã ngành phù hợp, theo yêu cầu thực tế của địa phương và của các em học sinh. Nhà trường chúng tôi không phải phụ thuộc ai cả, tự mình quyết và tự chịu trách nhiệm nên vấn đề gì cũng giải quyết rất nhanh, ngay cả việc quản lý đầu ra cũng như đầu vào của các sinh viên trong trường". 

Thầy giáo Phạm Quốc Khánh - Trưởng phòng Quản lý Đào tạo, Học viện Ngân hàng, thông tin về tỷ lệ việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp sẽ giúp học sinh, sinh viên hình dung được nhu cầu của thị trường đối với ngành đào tạo và sự chấp nhận của xã hội đối với chất lượng đào tạo của trường mà họ muốn theo học. Thế nên tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm tại Học viện Ngân hàng ngay trong những năm đầu tiên thường chiếm tới 90-92%.

Chia sẻ về vấn đề thống kê sinh viên có việc làm để đưa ra tỷ lệ tuyển sinh cũng như làm giảm thất nghiệp sau khi sinh viên ra trường trong năm 2017, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga đã khẳng định, Bộ yêu cầu các trường thống kê việc làm của sinh viên sau khi ra trường để xem xét nhiều khía cạnh, tuy nhiên nhiều trường cho rằng việc làm này khó khả thi.

Trong công văn 4806 về việc báo cáo tình hình việc làm của sinh viên tốt nghiệp. Nội dung báo cáo (tính theo ngành đào tạo) yêu cầu nêu rõ: Tình trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp: Báo cáo phân tích kết quả điều tra dựa trên 3 chỉ tiêu: Có việc làm, chưa có việc làm, chưa có việc làm và đang học nâng cao;

Khu vực làm việc của sinh viên tốt nghiệp: Báo cáo phân tích kết quả điều tra sinh viên tốt nghiệp đang làm việc theo khu vực (khu vực nhà nước, tổ chức tư nhân, liên doanh với nước ngoài); Đánh giá mối quan hệ giữa kết quả đào tạo và tình trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp: Báo cáo đánh giá tình hình việc làm của sinh viên tốt nghiệp và đưa ra các kiến nghị trong việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh, điều chỉnh cơ cấu ngành đào tạo, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp dạy học hoặc những thay đổi khác nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường.

Khảo sát sinh viên có việc làm sau khi ra trường: Vẫn còn nhiều khó khăn

Bà Đặng Hương Giang, Trưởng phòng Công tác chính trị và quản lý sinh viên, Trường Đại học Thủy lợi cho biết, trường thực hiện điều tra về tình hình việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp từ năm 2009 với nhiều hình thức khác nhau, như: qua website của trường, email, bưu điện, mạng xã hội. Kết quả của việc điều tra giúp cho trường đánh giá đúng hơn về chất lượng chương trình đào tạo. Cũng từ đó, nhà trường có biện pháp điều chỉnh phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực của xã hội.

Mặc dù việc thu thập thông tin, công bố tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm là yêu cầu bắt buộc nhưng việc khảo sát của các trường lại đang gặp một số khó khăn. Hầu hết các trường đại học ở Việt Nam chưa có một hệ thống theo dõi hồ sơ người học tốt, độ tin cậy của các thông tin về điện thoại, email hay địa chỉ của người học rất hạn chế. 

Nhiều em sau khi có việc làm thì thay đổi số điện thoại, email gây khó khăn cho các trường trong việc nắm bắt tình hình công việc của cựu sinh viên. Vì vậy, khi các trường gửi phiếu khảo sát thì số lượng cựu sinh viên trả lời thông tin chỉ từ 40% đến 60%, có trường chỉ nhận được từ 10% đến 40% phiếu trả lời.

Theo đánh giá của các trường, ở khối trường kinh tế hay các trường được mở ở các địa phương, phục vụ nhân lực cho địa phương thì những đơn vị đó có phiếu điều tra hoặc liên hệ với sinh viên khá tốt. Bên cạnh đấy, ở các trường này, tỉ lệ học sinh sau khi tốt nghiệp còn liên hệ với nhà trường vẫn rất cao bởi công việc thường gắn liền với chính các thầy cô giáo hướng dẫn, các em cần những kinh nghiệm thực tế, chia sẻ của chính thầy cô mình.

Bà Lê Thị Thu Thủy, Phó Hiệu trưởng ĐH Ngoại thương Hà Nội cho biết: “Để có những kết nối chuẩn xác với sinh viên đã tốt nghiệp, thì ngay từ khi các em còn là sinh viên, chúng tôi đã tạo điều kiện cho các em vào “tầm ngắm” của các doanh nghiệp, công ty, đơn vị có tiếng trong lĩnh vực, ngành học; thông qua các câu lạc bộ nguồn nhân lực, hội chợ việc làm… được trường tổ chức”.

Dù việc thu thập thông tin và công bố kết quả về tình hình việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp có nhiều khó khăn, nhưng các trường đều khẳng định, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng đào tạo. Trên cơ sở tỷ lệ việc làm của sinh viên tốt nghiệp sẽ giúp các trường xem xét, điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh, cơ cấu đào tạo, điều chỉnh, cập nhật nội dung chương trình đào tạo, đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động.

Nhiều năm nay các trường vẫn chưa chủ động kết nối với sinh viên sau khi ra trường, ít quan tâm tới hiệu quả của việc đào tạo với xã hội, nhưng giờ đây, khi trở thành quy định từ trên Bộ GD-ĐT thì các trường phải triển khai bài bản, chú trọng tới việc chăm sóc, liên hệ với sinh viên sau khi tốt nghiệp một cách chuyên nghiệp hơn.

Đây không phải là lần đầu tiên Bộ GD-ĐT yêu cầu các trường công bố thông tin sinh viên tốt nghiệp có việc làm. Trước đó, trong Thông tư 09.2009 của Bộ GD-ĐT về Quy chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân cũng có yêu cầu các trường phải công khai tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm và học lên trình độ cao hơn sau 1 năm ra trường, nên nhiều trường đã thực hiện việc thu thập thông tin của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Dạ Thảo

 
hotline
Quảng cáo: 091 2161163
Nội dung: 090 186 3399
 
TIN LIÊN QUAN
 
 
 
Bình luận 0
Chưa có bình luận nào cho bài viết này.
Gửi bình luận
Họ và tên *
E-mail *
Tiêu đề
Nội dung *
 
 
 
 
 
 
XEM NHIỀU NHẤT
 
 
 
 
 
 
  • Bình Luận

    Bình luận

    Không phải ngẫu nhiên mà việc giữ bí mật thông tin về vụ việc, về khách hàng lại là một trong những nghĩa vụ của luật sư được quy định trong Luật Luật sư và Quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp luật sư Việt Nam.

  • Bình Luận

    Bình luận

    Phát biểu với báo giới, Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn Nguyễn Đăng Chương cho rằng “việc lập danh sách cấm là bất khả thi”, và Cục lựa chọn phương pháp lập danh sách “cho phép”. Như vậy ở đây ông Cục trưởng đã lựa chọn phương pháp “chọn cho”, thay vì “chọn bỏ”. Hay nói cách khác, ông lựa chọn việc dễ cho mình, đẩy việc khó cho người dân, doanh nghiệp.

  • Hoàng Linh

    Nhà báo

    Venice ngoan cố hay người Việt sai lầm? Theo một thống kê thì du khách đến thành phố nhỏ bé này mỗi năm gấp ba lần số du khách đến toàn cõi VN: tháng 4.2017 VN đón 1.071.650 lượt du khách, còn thành phố Venice đón trên 30 triệu du khách mỗi năm.

  • Đoàn Đạt

    Nhà báo

    “Cải cách giáo dục”, cụm từ thoạt đầu mới nghe người ta cứ dễ lầm đó là một cụm từ biểu hiện cho tinh thần cầu tiến, ham đổi mới, nhưng cứ nghe đi nghe lại hết năm này đến năm khác người nghe không khỏi thở dài như nhân vật của Vũ Trọng Phụng mà than rằng: “Biết rồi, khổ lắm, cải mãi!”…

  • Quốc Phong

    Nhà báo

    Câu chuyện khiến dư luận dậy sóng về vụ ông Vũ Huy Hoàng, người từng giữ cương vị bộ trưởng nhiều năm rồi bị kỷ luật tước mọi phẩm hàm, nay lại được Văn phòng Bộ Công Thương ký công văn bảo lãnh để giúp ông có được tấm thẻ vào khu vực cách ly của sân bay quốc tế Nội Bài. Điều này khiến tôi không chỉ thất vọng về con người ông mà với cả một vài cán bộ thuộc Văn phòng Bộ Công Thương, với cả nơi dễ dãi chấp nhận phê duyệt mà thiếu nhạy cảm chính trị. Họ đã vi phạm nguyên tắc tổ chức đến khó hiểu và rất xem thường dư luận. Đó mới là điều đáng lo cho công tác quản lý xuất nhập cảnh nói chung khi một người nào đó "có vấn đề (!!!)".