ngày 12 tháng 12 năm 2017
Bàn tròn lịch sử
 

Vì sao các nhà sư phương Bắc tìm đến đất Việt tu hành?

In bài viết
  Phật giáo đã xuất hiện tại Việt Nam từ rất sớm, với sự truyền thừa từ chính Ấn Độ cùng với sự di cư trốn khỏi phương Bắc của những nhà sư Trung Hoa.

Kỳ 1: Phật giáo đến Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc hay Ấn Độ?

Kỳ 2: Vì sao Phật giáo dễ dàng hòa nhập với người Việt?

Phật giáo Việt Nam đã từng phát triển rất mạnh trong thế kỷ thứ 2-3. Mặc dù vậy, sự phát triển này bị gián đoạn trong những năm tiếp theo cho đến khi những nhà sư chạy loạn khỏi Trung Quốc đến đây và tạo lập nhiều tông phái ảnh hưởng lớn đến sau này.
 

Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi  
Sau Khương Tăng Hội, suốt thế kỷ thứ 4, Phật giáo ở Giao Châu không được ghi chép nhiều. Đến thế kỷ thứ 5, một cái tên tiêu biểu xuất hiện là Đạt Ma Đề Bà, một tăng sĩ Ấn Độ đã đến Giao Chỉ để dạy về thiền. Đồ tôn của ông là Huệ Thắng, một nhà sư nổi tiếng vào cuối thế kỷ thứ 5, được Lưu Tích – Thái thú Nam Hải mời về quê quán là Bành Thành để dạy Phật. Huệ Thắng là người Giao Chỉ, thường đọc kinh Pháp Hoa, tu tập thiền định.
Phật giáo Giao Chỉ có những bước phát triển về thiền tông rõ nét, trước cả khi thiền tông chính thức được Bồ Đề Đạt Ma sáng lập tại Trung Quốc. Tuy nhiên theo phong cách của các nhà sư Ấn Độ, cũng như vị trí nội thuộc, thiền tông Giao Chỉ lúc này không có ghi chép truyền thừa nhiều cũng như không có những giáo phái chính thức được thành lập nên thiếu sự liên tục.
Từ thế kỷ thứ 6 trở đi, Phật giáo Giao Chỉ chịu sự truyền bá mạnh mẽ của Trung Quốc. Đây là khoảng thời gian ở Trung Quốc đang bị phân chia thành Nam – Bắc triều, vua Nam Triều là Lương Vũ Đế rất mến mộ đạo Phật, từng 4 lần xuất gia theo đạo. Tuy nhiên sau đó, từ khoảng giữa thế kỷ 6 trở đi, triều Lương bị khủng hoảng nặng nề và chiến loạn nổi lên. Nhiều nhà sư ở Trung Quốc tìm cách lánh xa các khu vực trung tâm quyền lực.
Năm 520, Bồ Đề Đạt Ma đến chùa Thiếu Lâm, trở thành bị tổ đầu tiên sáng lập Thiền tông Trung Quốc. Tổ thứ 3 là Tăng Xán, đã truyền giáo pháp cho một vị sư từ Ấn Độ là Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Năm 580, theo lời Tăng Xán, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến Pháp Vân tự (tức chùa Dâu, Bắc Ninh), chính thức sáng lập Thiền tông tại Việt Nam. Sau này đệ tử truyền thừa của sư là Pháp Hiền có hơn 300 giáo đồ tu tập.
Tỳ Ni Đa Lưu Chi được tôn xưng là người mở đầu cho Thiền tông Việt Nam, và phái Thiền của sư được kế tục liên tục đến tận sau thời Bắc thuộc, ảnh hưởng sâu rộng đến Phật giáo Đại Việt sau này. Kinh đầu tiên sư dịch ở Giao Chỉ là Tượng Đầu Tinh Xá, một cuốn kinh có tính chất thiền học và có dấu ấn của hệ văn Bát Nhã. 
Mặc dù truyền bá tư tưởng Thiền học, nhưng hành trạng truyền pháp của Tỳ Ni Đa Lưu Chi có sự xuất hiện của dấu ân Mật tông. Trong câu nói với Pháp Hiền về việc Tăng Xán truyền đạo cho mình, sư có đề cập đến tâm ấn, một khái niệm hay dùng trong Mật giáo. Một minh chứng rõ ràng hơn là việc sư đã dịch kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì, một kinh có yếu tố Mật giáo rất rõ. Mật giáo phát triển từ thế kỷ thứ 4, đến thế kỷ thứ 8 thì được hệ thống hóa thành Mật tông, hay Kim Cương thừa. Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên, thần linh, ngoài thiền định và tinh tấn thì còn hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết… Việc hành pháp này trở nên dễ dàng tiếp cận với xã hội đa thần của Việt Nam. Mặc dù không được ghi chép thành một tông phái chính thức, những nhà sư có ảnh hưởng của Mật giáo vẫn xuất hiện rất nhiều trong lịch sử Việt Nam.
 

Thiền phái Vô Ngôn Thông
Trong những thế kỷ sau đó, Phật giáo Giao Chỉ tiếp tục phát triển mạnh. Nhà chùa không chỉ là nơi tu tập mà còn là nơi nghiên cứu về lịch sử, địa lý, y hoc, phong thủy. Đại Đường Cầu Pháp Cao Tăng truyện của Nghĩa tịnh có ghi chép về 6 vị sư Giao Chỉ đến Ấn Độ học pháp, trong đó nhiều vị cao tăng thông thạo cả tiếng Phạn lẫn tiếng Hán, đã dịch kinh sách trực tiếp từ tiếng Phạn. Đến trực tiếp Ấn Độ học pháp là một phương thức chung của nhiều nhà sư đến tận thời Lý – Trần.
Năm 820, một thiền phái khác chính thức được lập ra tại Giao Chỉ với sự truyền đạo của thiền sư Vô Ngôn Thông. Sư là đệ tử chân truyền đời thứ 4 của Huệ Năng, tổ thứ 6 của thiền tông Trung Quốc. Vô Ngôn Thông đến Giao Chỉ trú tại chùa Kiến Sơ (Tiên Du, Bắc Ninh). Lúc đầu ông chỉ quay mặt vào tường thiền định, không ai biết đến. Sau này, Lập Đức người sáng lập chùa Kiến Sơ mới chú ý tới ông, và sau khi trò chuyện, Lập Đức bái Vô Ngôn Thông làm thầy, được đổi tên là Cảm Thành. Vô Ngôn Thông truyền tông chỉ cho Cảm Thành. Sư mất năm 826.
Vô Ngôn Thông chủ trương đốn ngộ, một phương thức được nêu từ Huệ Năng, tức chỉ trong một giây lát vẫn có thể đạt được giác ngộ, không cần trải qua quá trình. Sư cũng nêu rõ quan điểm vô đắc, tức sự giác ngộ phải do tự thân mình thành, không phải từ sự chân truyền, cảnh báo sự lầm lạc khi cho rằng những ai được truyền tâm pháp thì mới được là giác ngộ hoặc ngược lại. Vô Ngôn Thông cũng là người bắt đầu phương pháp thoại đầu, phương pháp đối đáp ngắn gọn súc tích và hàm ý sâu xa nhằm thúc đẩy sự khởi ngộ vốn khá thịnh hành ở Phật giáo Trung Quốc.
Thiền tông Giao Chỉ cho đến thời kỳ độc lập của Khúc Thừa Dụ (905) đã phát triển mạnh mẽ với nhiều qui định chặt chẽ. Thầy của Vô Ngôn Thông, sư Bách Trượng Hoài Hải là người đầu tiên lập những quy định về thiền viện và sinh hoạt của các thiền sinh, cũng là người đưa ra chủ trương tự làm nuôi sống bản thân. Khất thực vẫn được duy trì những chỉ là một phương pháp tu tâm. Vô Ngôn Thông đã đem những quy định này vào Giao Chỉ. 
Sự phát triển của Phật giáo theo hướng chặt chẽ và có hệ thống là tiền đề cho việc sức mạnh của đạo Phật len lỏi vào đời sống chính trị của người Việt sau thời kỳ Bắc thuộc, cũng chính là mở đầu cho việc Phật giáo vươn lên thành quốc giáo của Đại Việt sau này.

Thiên Lang

Nguồn:
Việt Nam Phật giáo sử luận
Thiền Uyển tập anh
Cao Tăng truyện
Đại Đường Cầu Pháp Cao Tăng truyện

 
hotline
Quảng cáo: 091 2161163
Nội dung: 090 186 3399
 
TIN LIÊN QUAN
 
 
 
Bình luận 5
25/06/16PHẢN HỒI
That kham phuc kien thuc uyen bac cua mot Phat tu tu hoc theo Phat Giao Tay Tang. Toi that su rat nguong mo.
17/06/16PHẢN HỒI
Gửi bạn Thiên Lang, Tôi là Mật Diệu Hằng, tôi rất hoan hỷ với tinh thần của bạn khi bạn nhìn nhận được những điểm chưa đúng theo quỹ đạo chánh pháp của bản thân. Tôi cúng xin có vài lời đóng góp, rất mong bạn hoan hỷ đón nhận. 1, Bạn Thiên Lang đã nói rõ, bạn chưa phải là Phật tử, bạn chỉ là “người thích tìm hiểu về văn hóa, trong đó có tôn giáo” và cũng không phải là chuyên gia Phật học. Bạn cũng nhấn mạnh bài viết chỉ mang tính lịch sử, không phải là đề tài về Phật pháp. Tôi đồng ý với sự thừa nhận thẳng thắn của bạn và rất hoan hỷ với tinh thần đó. Tuy nhiên, tôi xin có một góp ý nho nhỏ, nếu bạn không phải là Phật tử, cũng không phải là chuyên gia Phật học, đồng thời cũng chưa phải là lịch sử học; vậy thì chỉ với sở thích tìm hiểu về văn hóa, trong đó có tôn giáo liệu bạn có đủ trách pháp nhãn để biết đâu là chánh, đâu là tà? Đâu là mê tín dị đoan, đâu là chánh pháp Phật đà? Vì chưa hiểu được bản chất của vấn đề nên bạn mặc dù sưu tầm mang tích lịch sử về vấn đề tôn giáo, cụ thể ở đây là đạo phật, rất dễ gây hiểu lầm cho mọi người. Nguy hiểm hơn nữa, nhiều người còn lợi dùng bài viết của bạn gieo rắc tà kiến thì tác hại của nó không chỉ ở phạm vi riêng bạn theo đúng luật tắc nhân quả mà còn phương hại đến nhiều người. 2, Bạn Thiên Lang có khẳng định rằng bạn đã sai khi viết: “Mật giáo mình dùng tương tự như Phật giáo, Đạo giáo. Chữ giáo ở đây chỉ 1 giáo lý, và mình dùng là danh từ, chỉ một phương pháp, một tông phái tu tập. Chữ tông cũng cùng ý nghĩa. Mình xin lỗi nếu khiến bạn hiểu sai…. thì mình xin lỗi vì kiến thức hạn hẹp của mình đã dùng sai. Và có lẽ mình phải xem xét lại các từ Phật giáo, Đạo giáo hay Hoa Nghiêm Tông... có được dùng như một danh từ hay không.” Thực ra, bạn Thiên Lang chưa phải là Phật tử, chưa nghiên cứu sâu về đạo Phật và các tông phái trong đạo Phật nên Thiên Lang bị nhầm lẫn cũng là điều dễ hiểu, bởi lẽ làm việc gì cũng cần phải có chuyên gia về lĩnh vực đó. Chữ giáo trong từ Mật giáo là chỉ giáo lý nói chung, bắt nguồn từ tiếng Hán ( “教”: Jiao), có nghĩa là giáo lý. Còn chữ Tông trong từ Mật Tông bắt nguồn từ chữ (“宗” : zong) nghĩa là môn phái, trường phái, chủ yếu nói về phương pháp tu tập. Dụ như trong võ thuật có môn phái Nga My, Cái Bang, Vịnh Xuân Quyền chẳng hạn để chỉ phương pháp thực hành của họ khác nhau. Trong đạo Phật thì có Hoa Nghiêm Tông, Thiền Tông, Tịnh độ tông, Mật Tông ...để nói lên sự khác nhau về phương pháp tu tập của các môn phái nhưng tất cả đều dựa trên giáo lý Phật đà như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Vô thường, vô ngã, lý nhân duyên, từ bi hỷ xả, bồ đề tâm, bi trí dũng và "duy tuệ thị nghiệp".. Mỗi môn phái có cách thực hành riêng như Thiền tông chú trọng vào thiền chỉ, thiền quán, thiền minh sát tuệ cùng với các phương tiện, tu pháp khác để nhìn nhận thấu đáo bản chất của mọi sự vật hiện tượng. Tịnh độ tông thì dựa trên việc thực hành niệm hồng danh đức Phật và một số phương pháp thực hành khác nhằm giúp Phật tử chứng ngộ được sự an lạc Niết Bàn. Mật Tông cũng dựa trên giáo lý Phật đà, dựa trên ba tinh yếu giác ngộ: xả ly, bồ đề tâm và trí huệ tánh không mà triển khai các phương tiện thiện xảo cùng với các phương pháp thực hành để giúp hành giả vượt sông sinh tử. Ngoài ra, trong các tông phái còn có nhiều hệ phái khác nhau, nhằm đi sâu và tập trung hơn nữa vào các phương pháp thực hành và đảm bảo phù hợp với hoàn cảnh, căn cơ của người học, đáp ứng được tính thời đại, tính quốc độ, tính dân tộc để giúp mọi chúng sanh hữu duyên viên thành đạo quả. 3, Tôi hoan hỷ khi bạn Thiên Lang công nhận “Mình không viết rằng "chỉ được dùng trong Mật giáo" mà mình viết rằng đây là một bằng chứng sơ khai trong việc có ảnh hưởng Mật giáo. Tuy nhiên đó chỉ là nghi vấn, cho nên mình mới bổ sung đoạn sau, quan trọng nhất để chứng tỏ Mật giáo đã có ảnh hưởng đến các nhà sư Giao Chỉ thời kỳ này.” Tôi hiểu, vì bạn Thiên Lang không phải là chuyên gia Phật giáo nên bạn viết để khẳng định Mật giáo có ảnh hưởng đến các nhà sư Giao Chỉ thời kỳ này, nhưng vấn đề ở chỗ là vì chưa hiểu tường tận Mật giáo nên bạn Thiên Lang nhìn nhận Mật Tông dùng bùa chú, bắt ấn, tôn thờ thế lực siêu nhiên, thần linh giống như xã hội đa thần ở Việt Nam là không đúng với chánh pháp Phật đà, bạn viết: “Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên, thần linh, ngoài thiền định và tinh tấn thì còn hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết… Việc hành pháp này trở nên dễ dàng tiếp cận với xã hội đa thần của Việt Nam.” Bạn thấy đó, chỉ mới là nghi vấn và để chứng tỏ Mật giáo ảnh hưởng đến các nhà sư Giao Chỉ thơi kỳ này mà bạn đánh đồng Mật tông, một trong 10 tông phái chính thức của Phật giáo thành ngoài đạo thờ thế lực siêu nhiên, thần linh thì đã lệch quỹ đạo chánh pháp, rất dễ gây hiểu lầm cho độc giả. Hệ lụy là, mọi người nghĩ đến Mật tông nghĩ ngay đến bùa chú, đến thờ thần linh và không nghĩ đến giải thoát khỏi sinh tử thì có phải bạn vô tình làm hại mình, hại người? Ngay thánh tăng Thogme Zangpo đã khuyến cáo: “Bị trói buộc trong ngục tù sanh tử luân hồi, làm sao những vị trời phàm tục có thể hộ trì cho ta được? Bởi vậy, có quy y thì hãy quy y nơi Tam Bảo, nơi nương tựa chân thật. Đó là pháp hành Bồ tát đạo”; do vậy, khi quy y Tam Bảo, Phật tử có thệ nguyện: "Quy Y Phật không thờ Thiên, Thần, Quỹ, Vật" để không rơi vào Tà kiến mà uổng cả công tu tập bao tháng ngày như lời dạy trong “Bức Thư Của Bồ Tát Long Thọ Gởi Cho Vua Gautamiputra” có đoạn: “Hãy theo chánh kiến nếu mong muốn cõi cao và giải thoát, vì dù cho những người làm nhiều hành vi phước đức nhưng qua tà kiến cũng sẽ có những hậu quả kinh khủng.” 4, Tôi càng hoan hỷ hơn khi bạn chấp nhận rằng: “Một lần nữa, mình xin bạn đọc lại đoạn trên mình viết. Bạn nói đúng, không sai, bản chất của Mật giáo và cả Phật giáo nói chung không thờ cúng ma quỷ.”. Đây là một lời xác nhận chính xác. Khi đã là Phật tử học theo giáo lý chân chính của nhà Phật thì không thờ Thiên, Thần, Quỷ, Vật, không thờ cúng ma quỷ. Tôi chỉ thấy tiếc tại sao bạn lại không viết điều đó trong bài viết của mình. Còn việc bạn lập luận rằng: “Nhưng thực tế Mật giáo ở VN sử dụng bùa chú, các phép thần thánh. Điều này được chứng minh qua các nhà sư dòng thiền Tỳ Ni hay Vô Ngôn, đến tận thời Lý Trần với Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không và cả các nhà sư có phép hô mưa ở Ấn Độ.”, tôi không đồng ý với bạn. Bởi lẽ, nếu bạn đã biết sai thì tại sao bạn lại làm theo? Đã biết đó là tà kiến thì tại sao không dùng luận điểm nhà phật để chỉ rõ những luận điểm sai với quỹ đạo chánh pháp, nhằm giúp độc giả hiểu rõ hơn về chánh pháp nhà Phật, giúp họ tránh xa tà kiến, ác tri thức. Làm được như vậy, bài viết của bạn trở nên ý nghĩa biết bao? 5, Bạn cũng nói “Mình xin nói lại, cái mình nói là sử. Mình không bàn đến chuyện quan điểm của Mật giáo là gì. Mình chỉ nói về hiện trạng đã xảy ra ở Việt Nam trong thời đó, và chính bạn cũng đồng ý vấn đề này. Đó là lý do mình xin làm rõ. Còn nói về việc thiếu sót khi không ghi rõ rằng "đó là một sự thêm thắt khi truyền vào Việt Nam" thì đó là lỗi của mình, chân thành xin lỗi” Tôi rất hoan hỷ với việc nhận thiếu sót của bạn khi viết về lịch sử có liên quan đến tôn giáo nhưng lại không viết hết việc có sự thêm thắt khi truyền vào Việt Nam làm mọi người lầm tưởng Mật giáo giống như ngoại đạo. Nếu bạn nghiên cứu lịch sử sâu hơn nữa và nhìn nhận được thấu đáo vấn đề trên nền tảng giáo lý nhà Phật thì đã giúp nhiều bạn đọc hiểu đúng đắn về Phật giáo nói chung và Mật tông nói riêng. Tôi nghĩ bạn viết về lịch sử Phật giáo, bạn cũng nên hiểu rõ giáo lý nhà Phật thì mới có thể phản ánh đúng hai mặt về vấn đề tôn giáo và đưa ra được kết luận đúng đắn về Phật giáo để giúp mọi người đến với chánh pháp. Đó mới là mục đích cao cả của người viết bài liên quan đến tôn giáo. 6, Tôi biết bạn không có ý truyền pháp mà chỉ muốn phản ánh lịch sử của Phật giáo khi truyền vào Việt Nam và tôi cũng rất vui vì đóng góp của bạn, nhưng do thiếu sót khi nghiên cứu, do không đào sâu thực nghĩa vấn đề nên bạn đã viết nhiều điều chưa đúng với chánh pháp, và những gì bạn viết trên bài cùng với việc độc giả đọc được thì đó chính là truyền những kiến thức chưa đúng chánh pháp đó bạn. Do vậy, luật báo chí mới quy định là viết trung thực, phản ánh đúng thực chất vấn đề, không gây hoang mang dư luận. Tóm lại, tôi đánh giá rất cao tinh thần dám làm, dám chịu, dám nhận những thiếu sót của mình để cùng minh định chánh tà chân ngụy của Thiên Lang và tôi rất hoan hỷ với khí độ quân tử của Thiên Lang, nhận lỗi để trở thành người cao thượng thứ hai như đức Phật đã dạy. Tôi cũng rất mong những ai viết chưa đúng với chánh kiến vì chưa hiểu thấu chân lý tối thượng của đạo Phật nói chung và các vấn đề liên quan đến Mật Tông nói riêng nên lên tiếng để trả lại sự trong sáng và thanh tịnh của giáo lý Phật đà nhằm giúp độc giả hiểu rõ chánh pháp mà lìa xa tà kiến, ác tri thức và đạt được mục đích tối thượng lìa mê về giác. Một lần nữa, tôi hoan hỷ với tinh thần của tác giả Thiên Lang. Cầu nguyện tất cả chúng sanh thành tựu hạnh phúc của Phật tánh. Om Mani Padme Hum.
15/06/16PHẢN HỒI
Chào bạn. Trước hết, mình rất cảm ơn bạn đã ghé đọc bài viết của mình và đưa ra lời nhận xét. Rất nhiều phần trong đó là đúng, mình chỉ xin bổ sung một số ý để bạn hiểu rõ hơn mục đích của mình. Trước khi trả lời, mình muốn làm rõ ý sau: Thứ nhất, Mình chỉ là một người thích tìm hiểu về văn hóa, trong đó có tôn giáo, không phải một Phật tử, càng không dám tự nhận mình là một chuyên gia Phật học. Bài mình viết chủ đề rõ ràng là lịch sử, chứ không phải về Phật pháp. Mình không có tham vọng truyền bá, hay tự cho là mình Phật lý hơn người để chỉ dạy người khác. Cái mình ghi chỉ là những ghi chép về lịch sử Phật giáo. Mình hạn chế thấp nhất việc bàn giáo lý cũng là vì việc này. Không ai dám cho mình là giỏi cả. Mình lại càng không, nên cái giáo lý mình đưa ra là một phản ánh của thực tại trong lịch sử. Điều này quan trọng. Mình không viết để truyền giáo. Có nghĩa là những đặc điểm của giáo lý mình chỉ ghi lại những ghi chép trong lịch sử ở thời gian đó, biến tướng như thế. Mình không dám bàn về bản chất thực sự của nó như thế nào, như mình đã nói, mình không phải chuyên gia Phật học. Thứ hai, Trong khuôn khổ một bài viết về sử, khó để nói hết về Phật pháp. Điều đó sẽ làm loãng mạch văn và rối người đọc, vốn không có nhu cầu tìm hiểu Phật pháp mà là tìm hiểu về lịch sử Phật giáo Việt Nam. Cho nên mong bạn lượng thứ nếu mình giản lược nhiều điều. Giờ mình xin trả lời vấn đề 1. Đoạn đó mình rút gọn, và mình cho rằng trên tổng thể, không hề xuyên tạc sai ý của VNPGSL. Mật giáo mình dùng tương tự như Phật giáo, Đạo giáo. Chữ giáo ở đây chỉ 1 giáo lý, và mình dùng là danh từ, chỉ một phương pháp, một tông phái tu tập. Chữ tông cũng cùng ý nghĩa. Mình xin lỗi nếu khiến bạn hiểu sai. Còn nếu bạn có thể chứng minh rằng chữ Mật giáo chỉ được dùng chỉ giáo lý chứ không phải chỉ cả giáo phái Kim Cương thừa, hay Mật tông chỉ là một động từ chỉ phương pháp tu tập, thì mình xin lỗi vì kiến thức hạn hẹp của mình đã dùng sai. Và có lẽ mình phải xem xét lại các từ Phật giáo, Đạo giáo hay Hoa Nghiêm Tông... có được dùng như một danh từ hay không. 2. Mình không viết rằng "chỉ được dùng trong Mật giáo" mà mình viết rằng đây là một bằng chứng sơ khai trong việc có ảnh hưởng Mật giáo. Tuy nhiên đó chỉ là nghi vấn, cho nên mình mới bổ sung đoạn sau, quan trọng nhất để chứng tỏ Mật giáo đã có ảnh hưởng đến các nhà sư Giao Chỉ thời kỳ này. 3. Một lần nữa, mình xin bạn đọc lại đoạn trên mình viết. Bạn nói đúng, không sai, bản chất của Mật giáo và cả Phật giáo nói chung không thờ cúng ma quỷ. Nhưng thực tế Mật giáo ở VN sử dụng bùa chú, các phép thần thánh. Điều này được chứng minh qua các nhà sư dòng thiền Tỳ Ni hay Vô Ngôn, đến tận thời Lý Trần với Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không và cả các nhà sư có phép hô mưa ở Ấn Độ. Mình xin nói lại, cái mình nói là sử. Mình không bàn đến chuyện quan điểm của Mật giáo là gì. Mình chỉ nói về hiện trạng đã xảy ra ở Việt Nam trong thời đó, và chính bạn cũng đồng ý vấn đề này. Đó là lý do mình xin làm rõ. Còn nói về việc thiếu sót khi không ghi rõ rằng "đó là một sự thêm thắt khi truyền vào Việt Nam" thì đó là lỗi của mình, chân thành xin lỗi. Để kết thúc (và mình xin phép không trả lời nữa) mình cũng xin nói cho bạn an tâm. Mình không đại diện và cũng không có tham vọng truyền pháp cho bất cứ ai, để bạn khỏi sợ như câu bạn trích dẫn. Mình chỉ - trong kiến thức hạn hẹp của mình - ghi lại một cách đích xác nhất và ngắn gọn nhất để người đọc có thể hình dung về lịch sử Phật giáo VN, cả những biến đổi của nó cho phù hợp với văn hóa bản địa, thâm chí cả việc xa rời lời Phật dạy, trọng cái hư danh và tiền bạc như thời gian gần đây, để có một cái nhìn tổng thể trong việc nghiên cứu văn hóa VN, vì đạo Phật đã ảnh hưởng rất nhiều đến nó. Lịch sử là một phạm trù khác với truyền giáo. Mong bạn hiểu cho.
14/06/16PHẢN HỒI
Tác giả Thiên Lang thân mến, Sau khi đọc bài viết này của bạn, tôi không thể không có đôi lời góp ý tới sự đọc hiểu của bạn khi viết về Kim Cang thừa (Mật thừa) bởi tôi là một Phật tử tu theo Phật giáo Tây Tạng. 1. Thiên Lang viết rằng:” Mật giáo phát triển từ thế kỷ thứ 4, đến thế kỷ thứ 8 thì được hệ thống hóa thành Mật tông, hay Kim Cương thừa.” Cái này được gọi là “mặc dù tâm trí chao đảo nhưng lại hay khoe khoang kiến thức.” Pháp danh của Thiên Lang không có, không biết thuộc tông phái nào hay lại là một người vô thần chuyên hóng chuyện tâm linh hoặc một nhà nhiên cứu tôn giáo thập cẩm nên trích dẫn lộn xộn dẫn đến sự nhầm lẫn kỳ cục về khái niệm giữa Mật Giáo và Mật tông. Để tỏ ra ta đây hiểu biết nhiều về Mật Giáo nên Thiên Lang nêu nguồn của lập luận này từ rất nhiều sách như : Việt Nam Phật giáo sử luận, Thiền Uyển tập anh, Cao Tăng truyện, Đại Đường Cầu Pháp Cao Tăng truyện”, nhưng xin thưa với bạn, quyển VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ LUẬN TẬP I (tác giả Nguyễn Lang, Nhà Xuất Bản Văn Học, Hà Nội 1979), viết rằng: “Mật Giáo là giai đoạn phát triển thứ ba của tư tưởng Phật Giáo đại thừa ở Ấn Độ ( giai đoạn thứ nhất là Bát Nhã, giai đoạn thứ hai là Duy Thức). Giai đoạn này bắt đầu từ thế kỷ thứ tư, trở nên hưng thịnh từ đầu thế kỷ thứ sáu, đến giữa thế kỷ thứ tám thì được hệ thống thống hóa trong một truyền thống gọi là Kim Cương thừa (Varayana).” Rõ ràng đến đây lộ xuất sự kém cỏi của Thiên Lang trong việc hiểu và trích dẫn như thế nào. Lại phải nhắc cho Thiên Lang nhớ rằng Mật Giáo là chỉ về giáo điển, còn Mật tông là chỉ tu pháp hành trì. 2. "Trong câu nói với Pháp Hiền về việc Tăng Xán truyền đạo cho mình, sư có đề cập đến tâm ấn, một khái niệm hay dùng trong Mật giáo": lại một sự lập luận khinh suất. "Tâm ấn" được dùng trong bất cứ tông phái nào, chỉ sự truyền pháp trực tiếp từ tâm vị Thầy đến tâm đệ tử, cùng hoà vào làm một, đâu phải chỉ hay dùng trong Mật giáo đâu nhỉ? 3. Bạn viết tiếp:”Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh, ngoài thiền định và tinh tấn thì còn hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết… Việc hành pháp này trở nên dễ dàng tiếp cận với xã hội đa thần của Việt Nam.” Đọc đến đây đủ thấy rõ bạn viết về Mật Giáo nhưng lại chỉ nghiên cứu một cách phiến diện. Mặc dù đúng là trong quyển Việt !-‘ Phật Giáo Sử Luận có nói rằng:” Theo Mật Giáo, trong vũ trụ có ẩn tàng những thế lực siêu nhiên; nếu ta biết sử dụng những thế lực siêu nhiên kia thì ta có thể đi rất mau trên con đường giác ngộ thành đạo, khỏi phải đi tuần tự từng bước. Sự giác ngộ cũng có thể thực hiện trong giây phút hiện tại. Sự sử dụng thế lực của thần linh, sự sử dụng thần chú, ấn quyết và các hình ảnh mạn đà la [3] có thể hổ trợ đắc lực cho thiền quán hành đạo.” Nhưng trong đoạn trích này tôi không hề thấy đề cập đến bùa chú mà chỉ có thần chú, là bản tâm của chư Phật mà thôi. Nhưng kể cả nhận định của tác giả Nguyễn Lang lẫn Thiên Lang, tôi không thể đồng tình với cách sử dụng cụm từ “tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh”, “sử dụng thế lực siêu nhiên”, “hành pháp bằng bùa chú”.. Dường như tác giả đang nhầm lẫn giữa Đông Mật (Trung Quốc) và Tây Mật (Tây Tạng) bởi Đông Mật là một biến tướng lệch chuẩn của dòng Kim Cang thừa khi truyền từ Tây Tạng sang Trung Quốc, nơi chuyên sử dụng bùa chú, linh phù, thờ thần linh trong thực hành pháp (điều này là sai so với lời dạy của đức Phật rằng điều đầu tiên khi quy y Phật không thờ thiên, thần, quỷ, vật – là những loài chưa thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử). Còn Phật Giáo Tây Tạng ( Tây Mật) nói riêng và Phật giáo nói chung chưa bao giờ chủ trương thờ phụng thần linh hay các thế lực siêu nhiên nào khác mà chỉ khuyên người tu tự thắp ngọn đuốc Chánh pháp mà đi, để rồi “tự lực hành pháp, tha lực hộ trì”. Việc sử dụng thần chú trong quá trình thực hành pháp nhằm mục đích duy nhất là góp phần chuyển hoá tâm thức của hành giả từ tâm phàm phu sang tâm Phật. Đến đây tôi hiểu vì sao Thiên Lang lại đi đến câu kết rằng:” Việc hành pháp này trở nên dễ dàng tiếp cận với xã hội đa thần của Việt Nam.” Chính sự ảnh hưởng của Đông Mật với việc sử dụng bùa chú, thờ tụng quỷ thần, hô mưa gọi nắng, phù hợp với tín ngưỡng dân gian của một bộ phận không nhỏ người dân Việt Nam cả xưa lẫn nay. Nhưng thật đáng tiếc đó không phải là tinh tuý giáo pháp của Kim cang thừa mà Tây Tạng là cái nôi của truyền thống này, vốn đề cao ba yếu tính giác ngộ: Xả ly, Bồ đề tâm và Tánh không hay nói cách khác là “Duy tuệ thị nghiệp”. Đây mới chính là chủ trương của Mật Giáo chứ không phải sự sử dụng bùa chú, thờ phụng quàng xiên mà Thiên Lang đã viết, gây nên sự hiểu lầm tai hại đối với người đọc về bản chất của Kim cang thừa. Vì vậy, tôi khuyên Thiên Lang đừng phạm phải thất bại trầm trọng mà Đạo sư Mật tông Tây Tạng Gampopa (thế kỷ thứ 12) đã khuyến cáo: “Tìm cách dạy Giáo pháp cho người khác mà tự mình không trải nghiệm cũng giống như một người mù dẫn dắt người mù” mà thôi. Nguyện chúng sanh luôn tỉnh thức trong trạng thái giác ngộ Om Ah Hum
13/06/16PHẢN HỒI
Gửi đến Thiêng Lang Thứ nhất: Phật giáo là nói về yếu nghĩa lời Phật và các bậc Thánh Tăng mà người tu dựa đó làm kim chỉ nam, điều chỉnh hành vi thân ngữ tâm theo đúng quỹ đạo chánh pháp thì khi bàn luận về Phật Pháp Thiêng Lang lại đi nói về lịch sử làm sao được? Thứ 2: Đưa ra luận cứ từ cuốn kinh “ Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì”. Không nêu rõ nguồn gốc, xuất xứ từ đâu? Tác giả như thế nào? Mà tự tin trích dẫn, tự đánh giá theo tâm ý của mình phát ngôn đó là “một kinh có yếu tố Mật giáo rất rõ. Mật giáo phát triển từ thế kỷ thứ 4, đến thế kỷ thứ 8 thì được hệ thống hóa thành Mật tông, hay Kim Cương thừa. Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh, ngoài thiền định và tinh tấn thì còn hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết… ”. Đó là một lập luận khinh suất, thiếu cẩn trọng, tỏ thái độ ngạo mạn. Ở Trung Quốc đã nổi tiếng với rất nhiều kinh giả. Con số kinh được ngụy tạo gọi là ngụy thư, chiếm kỷ lục thuộc về Trung Quốc. Có khoảng 450 tựa đề kinh ngụy tạo Trung quốc liệt kê trong Danh Mục Đại Tạng kinh Nhưng thực ra tổng số tích lũy của ngụy thư viết ở Trung quốc gần đến con số 550.
Gửi bình luận
Họ và tên *
E-mail *
Tiêu đề
Nội dung *
 
 
 
 
 
 
XEM NHIỀU NHẤT
 
 
 
 
 
 
  • Bình Luận

    Bình luận

    Sau một thời gian tạm lắng, dư luận tiếp tục ồn ào xung quanh chuyện đề xuất cải tiến chữ tiếng Việt của PGS.TS Bùi Hiền được vào đề thi Ngữ văn một số trường THPT. Có nhiều ý kiến phản ứng gay gắt về cách làm này.

  • Bình Luận

    Bình luận

    Học thuyết kinh tế của John M. Keynes diễn tả trong tác phẩm nổi tiếng của ông (Lý thuyết tổng quát về nhân dụng, lợi tức và tiền tệ) đã nhấn mạnh đến các hiện tượng tiêu cực mang tính phổ biến ở các nước kinh tế chậm phát triển, làm cho các nước đó càng luẩn quẩn trong vòng chậm tiến.

  • Bình Luận

    Bình luận

    Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM Lê Hồng Sơn trả lời đại biểu tại phiên chất vấn kỳ họp thứ 6, HĐND sáng 6.12 về biên soạn sách giáo khoa rằng, sau khi biên soạn xong, bộ sách sẽ được trình lên Bộ GD-ĐT để bộ phê duyệt trước rồi mới thực hiện, tất nhiên phải hoàn tất trước khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới.

  • Quốc Phong

    Nhà báo

    Trong tổng số 88 trạm thu phí BOT trên cả nước thì trong đó đã có đến 13 trạm "có vấn đề" kiểu như Cai Lậy, Tào Xuyên... và Bộ GTVT cùng các bộ, ngành liên quan đã cho điều chỉnh phí thì cũng rất cần truy tiếp xem có bao nhiêu nhóm lợi ích can thiệp vào nó để đến nông nỗi này?

  • Nguyễn Công Khế

    Nhà báo

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã quyết định một việc rất đúng vào buổi chiều hôm qua, là tạm dừng thu phí ở trạm BOT Cai Lậy 30 ngày để làm rõ tính pháp lý cũng như những khuất tất bên trong trạm BOT này.