ngày 20 tháng 11 năm 2017
Bàn tròn lịch sử
 
Trên mặt trận ngoại giao với triều đình phương Bắc

Nhà Trần mang 3 vạn quân đánh sang đất Nguyên, bắt hai ngàn tù binh

In bài viết
Hưng Đạo Vương dặn vua Trần Anh Tông cần chủ động trước phương Bắc
  Trong thế kỷ 13, nhà Trần đã 3 lần đánh bại đạo quân xâm lược Nguyên Mông. Tuy nhiên, ít ai biết là sang thế kỷ 14, vua Trần Anh Tông đã đánh sang đất Nguyên và bắt sống đến 2.000 tù binh mang về.

Kỳ 1: Cha ông ta từng chỉ huy liên quân Đông Nam Á chống lại phương Bắc

Kỳ 2: Đinh Tiên Hoàng tự coi là cửa trên khiến phương Bắc bực dọc

Kỳ 3: Sứ giả phương Bắc bị hù dọa không dám bước chân vào nước ta

Kỳ 4: Vua Tống chém tướng kiếm chuyện ngoài biên giới để làm vui lòng Đại Việt

Kỳ 5: Vua Tống sợ trái ý Ngọa Triều nhà Lê​

Kỳ 6: Đại Việt tặng ngựa, nhà Tống thất kinh​

Kỳ 7: Hai nhà sư Việt bẻ gãy dã tâm của phương Bắc​

Kỳ 8: Chính sách gả công chúa để phá âm mưu của phương Bắc

Kỳ 9: Khi nhà Tống lấn đất, ông cha ta sẵn sàng tuốt gươm

Kỳ 10: Trước Lý Thường Kiệt, quân ta nhiều lần Bắc phạt sang đất Tống​

Kỳ 11: Chư hầu của Đại Việt uy hiếp nhà Tống, vua Lý toan động binh​

Kỳ 12: Lý Thường Kiệt dùng vũ lực lấy lại đất yết hầu vùng biên trong tay quân Tống​

Kỳ 13: Sợ Lý Thường Kiệt bắc phạt lần 2, vua Tống tính cắt đất​

Kỳ 14: Bị áp lực từ biên giới, vua Tống phải nghiến răng trả đất​

Kỳ 15: Lý Thường Kiệt dùng tù binh mở cho vua Tống con đường thể diện

Kỳ 16: Muốn nhà Tống trả đất, không thể dùng lý lẽ suông​

Kỳ 17: Nhà Trần dẫn quân Bắc phạt, vua Tống vừa sợ vừa mừng​

Kỳ 18: Nhà Trần 4 lần trói sứ giả Mông Cổ vì tội 'uốn lưỡi cú diều'

Kỳ 19: Đại Việt Nguyên Mông thông hiếu, nhà Tống sợ hãi cầu thân

Kỳ 20: Nhà Trần dùng kế trừng trị các quan Đạt lỗ hoa xích​

Kỳ 21: Ba đời vua Trần và 12 lần cự tuyệt nhà Nguyên​

Kỳ 22: Nhà Trần kiên quyết không làm lính đánh thuê cho Nguyên Mông​

Kỳ 23: Nhà Nguyên đòi vũ khí tối thượng, vua Trần từ chối​

Kỳ 24: Căng thẳng đấu tranh trong lễ nghi triều kiến giữa nhà Trần và Nguyên Mông

Kỳ 25: Tranh cãi về chữ tín trong việc xử tù binh nhà Nguyên​

Kỳ 26: Trò hề của sứ Nguyên sau khi thua trận​

Kỳ 27: Nhà Trần tung tình báo, sẵn sàng phương án đánh sang đất Nguyên​

Dưới triều đại nhà Trần, quân Đại Việt đã 2 lần xuất kích đánh vào tận trong đất Trung Quốc. Lần đầu là năm 1241 dưới triều vua Trần Thái Tông khi nhà vua ngự giá thân chinh theo đường thủy tiến ra vùng biển Quảng Ninh rồi Bắc phạt. Sử chép: "Vua thân hành cầm quân đi đánh các trại Vĩnh An, Vĩnh Bình của nước Tống phía đường bộ, vượt qua châu Khâm, châu Liêm, tự xưng là Trai Lang, bỏ thuyền lớn ở trong cõi, chỉ đi bằng các thuyền nhỏ Kim Phụng, Nhật Quang, Nguyệt Quang. Người châu ấy không biết là vua, đều sợ hãi chạy trốn. Đến sau biết là vua mới chăng xích sắt giữa sông để chặn đường thủy. Khi trở về, vua sai nhổ lấy vài chục cái neo đem về".

Thời điểm đó, ta vào đất Tống nhưng là đánh loạn quân mà triều Tống không quản được nên nhà Tống đang lúc suy yếu cũng không dám có ý kiến gì. Còn đến lần sau vào năm 1313, khi ta cất quân đánh sang đất Nguyên thì đang trong lúc nhà Nguyên còn khá cường thịnh. Do vậy, tính chất cuộc chiến sau còn đáng ca ngợi nhiều hơn.

Nguyên nhân của sự kiện này cũng là do quan quân nhà Nguyên o ép. Tuy rằng dưới triều Nguyên Thành Tông, triều đình Nguyên chủ trương hòa hoãn với Đại Việt nhưng bọn quan lại ở biên ải lại không. Những năm 1311 - 1312, quan lại biên giới nhà Nguyên ở châu Quy Thuận đã năm lần sang cướp ở lộ Thái Nguyên, bắt 5.000 dân đưa sang Trung Quốc. Tri châu châu Dưỡng Lợi là Triệu Giác bắt những người buôn bán ở châu Tư Lang của nước ta, chiếm 1.000 khoảnh ruộng và lấy một lọ vàng.

Nếu ta tiếp tục để yên không có phản ứng thích đáng thì bọn quan lại bên biên giới nhà Nguyên sẽ càng phóng túng, được đằng chân, lân đằng đầu và tiếp tục lấn đất cướp dân. Còn nếu dùng sứ giả đi biện bạch thì ngày tháng dây dưa và vấn đề không giải quyết được thấu đáo. Trước việc quân Nguyên xâm chiếm biên giới, nhà Trần đã kiên quyết trừng trị bằng biện pháp quân sự. Thực sự đây không phải là nước cờ phiêu lưu mà được tính toán rất kỹ. Với những thông tin tình báo quan trọng, ta biết rằng triều Nguyên lúc đó có nhiều vấn đề phải lo nên không ngay lập tức dám động binh với Đại Việt. Tuy nhiên, việc tích trữ lương thảo, kho tàng ở biên giới để chờ thời điểm thuận tiện mới dấy binh cũng là mối nguy cho nước ta.

Cần nhớ là thời trước khi Hốt Tất Liệt qua đời đã kịp ra lệnh chuẩn bị đạo quân để xâm lượt Đại Việt lần thứ 4 với quy mô hơn 50 vạn người, 1.000 thuyền, 70 vạn khí giới, 35 vạn thạch lương, 2 vạn thạch thức ăn cho ngựa, 21 vạn cân muối và cả tiền lương cho quân lính (mỗi người 2 đĩnh tiền). Dù kế hoạch sau đó bị hủy bỏ nhưng chúng vẫn để lại kho tàng tích trữ đáng lo cho nước ta. Chính vì vậy, quân Trần khi đó kéo sang đánh Nguyên để thực hiện kế nhất tiễn hạ song điêu: một mặt trừng trị bọn quan quân nhà Nguyên và mặt khác phá hủy các cơ sở có thể là mối nguy cho Đại Việt trong tương lai gần.

Cũng cần lưu ý rằng đánh sang đất giặc để chủ động phòng chống chiến tranh cũng được Hưng Đạo Vương nhắc nhở với các vua Trần trước khi qua đời. Đại Việt sử ký toàn thư chép vào 1300, thời điểm Hưng Đạo Vương ốm, vua Trần Anh Tông có đến thăm. Vua hỏi rằng: "Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào". Vương trả lời: "Ngày xưa Triệu Vũ dựng nước, vua Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế "thanh dã", đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời Đinh, Lê dùng người tài giỏi, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ  mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế.

Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản [binh] chế trường [trận] là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, cóđược đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".

Hưng Đạo Vương đã 2 lần nhắc vua Anh Tông việc quân Nam chủ động đánh vào đất Bắc để giữ bờ cõi. Cũng qua lời của Hưng Đạo Vương thì có thể thấy chủ trương quân sự nhà Trần là biến hóa, không chỉ biết ngồi chờ giặc đến rồi mới thực hiện kế vườn không nhà trống. Khi cơ hội thuận lợi thì sẵn sàng ra tay trước như Triệu Vũ Đế, Lý Thường Kiệt.

Tháng giêng năm Quý Sửu (tức đầu năm 1313) quân ta theo nhiều đường sang miền nam Trung Quốc. Từ biên giới tỉnh Hà Giang bây giờ, hơn 3 vạn quân ta, trong đó có hơn 3 nghìn quân kỵ, đánh sang châu Trấn Yên (thuộc Quảng Tây), đốt phá các kho tàng rồi về. Trên biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn, quân ta chia làm 3 đạo tiến vào châu Quy Thuận (nay là huyện Tĩnh Tây, thuộc Quảng Tây). Khi vào đến Quy Thuận, quân nhà Trần không rút quân về mà tiếp tục đóng quân lại thăm dò phản ứng.

Triều đình Nguyên được tin, lo ngại, lệnh cho hành tỉnh Hồ Quảng phát binh đi đánh. Hành tỉnh Hồ Quảng là cơ quan chuyên tổ chức các đạo quân đi xâm lược Việt Nam trước đây. Nhưng lần này, mặc dầu có lệnh của triều đình, không thấy hành tỉnh Hồ Quảng có hành động gì. Từ đó có thể thấy bọn quan quân biên giới nhà Nguyên chỉ giỏi gây sự khi ta nhún nhường, còn khi đại quân ta sang thì không dám vọng động.

Tháng tư âm lịch. để trừng trị bọn lấn chiếm, vua Trần Anh Tông thân cầm quân đánh sang châu Dưỡng Lợi thuộc Quảng Tây, bắt hơn hai nghìn quân Nguyên đem về nước. Trước áp lực quân sự của Đại Việt, triều đình nhà Nguyên thực sự kinh sợ và phải chịu nói chuyện một cách nghiêm túc.

A.T

 
hotline
Quảng cáo: 091 2161163
Nội dung: 090 186 3399
 
TIN LIÊN QUAN
 
 
 
Bình luận 2
21/10/17PHẢN HỒI
Đúng là Hào khí Đông A luôn phát huy trong mọi giai đoạn, trong mọi hoàn cảnh... Vua Trần Anh Tông đã dạy cho nhà Nguyên một bài học nhớ đời khi hai lần xuất binh đánh sang tận đất Nguyên và bắt hàng ngàn tù binh. Việc này đã làm cho nhà Nguyên sợ hãi và chấm dứt hoàn toàn ý đồ đánh chiếm Đại Việt lần thứ 4... Bài học quý báu cho muôn đời con cháu nước Việt về Hào khí Đông A.
20/10/17PHẢN HỒI
Sao lần đầu 1241 lần sau là1213?
Gửi bình luận
Họ và tên *
E-mail *
Tiêu đề
Nội dung *
 
 
 
 
 
 
XEM NHIỀU NHẤT
 
 
 
 
 
 
  • Bình Luận

    Bình luận

    20.11 đối với thầy cô giáo là một ngày rất đẹp, đầy ý nghĩa - ngày Tết của nhà giáo. Trước thềm 20.11, các em học sinh, các bậc phụ huynh và toàn xã hội đều hướng về người thầy với niềm tri ân, trân trọng. Cũng như bao thầy cô giáo khác, tôi cũng có những phút giây lắng đọng, ngẫm về người thầy...

  • Quốc Phong

    Nhà báo

    Phát biểu vào chiều 13.11 tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra về dự thảo luật Bảo vệ bí mật nhà nước và dự luật An ninh mạng, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm cho biết đây là 2 dự án luật rất quan trọng, là đòi hỏi của thực tiễn phát triển đất nước và nhằm thực hiện Hiến pháp năm 2013, liên quan đến quyền tự do dân chủ của nhân dân. Đây cũng là vấn đề rất khó, không chỉ với Việt Nam mà với thế giới.

  • Lê Học Lãnh Vân

    Chuyên gia quản trị

    Nếu tưởng thưởng xã hội tỷ lệ nghịch với đóng góp cho xã hội cứ được duy trì công khai trước mắt người dân thì càng về sau thành phần không lương thiện càng lấn át thành phần lương thiện.

  • Quốc Phong

    Nhà báo

    Thật không ai có thể hình dung nổi câu chuyện cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ, quả phụ nhà tư sản dân tộc Trịnh Văn Bô vào những ngày sau Tổng khỏi nghĩa Cách mạng tháng Tám. Khi đó, cụ đã nhận trách nhiệm cực kỳ to lớn trước Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh mà không hề hay biết nhiệm vụ lịch sử.

  • Lê Học Lãnh Vân

    Chuyên gia quản trị

    Một quốc tang sẽ giáo dục lòng nhân ái, lòng quý trọng sinh mạng con người, đoàn kết người ta với nhau trong tình nhân loại, trong thảm họa chung, khiến người ta quyết tâm hơn trong việc ngăn ngừa thảm họa. Quốc tang cho người dân cảm nhận và hiểu rằng sinh mạng của mỗi công dân được quý trọng như nhau.