ngày 14 tháng 12 năm 2017
Bàn tròn lịch sử
 

Hành trình chữ Quốc ngữ khai tử chữ Hán trên đất Việt

In bài viết
Một lớp học của Đông Kinh Nghĩa Thục - Ảnh: Internet
  Trong việc phát triển chữ Quốc ngữ, người Pháp có chủ trương và toan tính riêng phục vụ lợi ích của họ. Tuy nhiên, việc này lại mang rất nhiều tiện lợi cho người Việt Nam khi chúng ta không còn phụ thuộc vào hệ thống chữ Hán khó đọc, khó nhớ nữa. Có lẽ điều người Pháp không thể ngờ rằng chữ Quốc ngữ chính là phương tiện để người Việt phổ biến, hun đúc lòng yêu nước, tinh thần đòi độc lập.

Kỳ trước

Chữ Quốc ngữ buổi đầu: Người Nhật chê, người Việt nhận

Để chữ Quốc ngữ có thanh điệu, cần ghi công một cậu bé

 
Sau khi được các nhà truyền giáo phát minh vào đầu thế kỷ 17 mà điểm nhấn là bộ tự điển Việt – Bồ - La của cha Đắc Lộ, chữ Quốc ngữ có nhiều cải biến để ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên, suốt gần 3 thế kỷ, chữ Quốc ngữ không được trọng dụng mà chỉ ‘lưu hành nội bộ’ trong cộng đồng của người theo đạo Công giáo.

Các triều đình phong kiến Việt Nam vốn có ác cảm với các nhà truyền giáo phương Tây đã không tôn trọng chữ Quốc ngữ. Với các nhà nho thì chữ Hán được coi là chữ Thánh hiền và họ không chấp nhận chữ Quốc ngữ của Tây phương. Đó là lý do chữ Quốc ngữ dù ra đời thế kỷ 17 nhưng không được phổ biến trong thế kỷ 18, 19. Vào thời điểm đó, ngoài chữ Hán thì ở Việt Nam còn có chữ Nôm và chữ Quốc ngữ đều là những văn tự ghi tiếng nói của người Việt Nam. Nếu so sánh thì chữ Quốc ngữ rất gần chữ Pháp, lại rất tiện lợi, dễ học, dễ nhớ hơn nhiều so với chữ Nôm.

Chữ Nôm tuy là để ghi tiếng của người Việt nhưng lại mượn chữ Hán thành ra có thể coi là là cách thức dùng chữ Hán giải mã tiếng Việt. Nếu chữ Hán khó một thì thì chữ Nôm khó 10 vì người giỏi chữ Nôm thì phải cực thạo chữ Hán và nhanh ý để nhìn hình đoán chữ.

Đáng lẽ với sự tiện lợi của chữ Quốc ngữ như vậy thì phải được dân ta khi đón nhận nồng nhiệt. Nhưng như đã nói, giới sĩ phu Việt Nam đã cực lực chống lại các chính sách ngôn ngữ của nhà cầm quyền Pháp. Họ quan niệm chữ Quốc ngữ là sản phẩm của ngoại bang, là công cụ truyền bá của các nhà truyền giáo. Họ muốn duy trì học chữ Hán bởi vì học chữ Hán là được giáo dục về luân lí về lịch sử, còn học chữ Quốc ngữ thì chỉ như một trò chơi, khi người ta biết đọc biết viết chữ Quốc ngữ người ta không biết gì cả.

Ngay cả khi không thể dùng chữ Hán để ghi văn bản của người Việt thì họ thà dùng chữ Nôm còn hơn dùng chữ Quốc ngữ. Năm 1867, Nguyễn Trường Tộ chính thức đề nghị triều đình Huế sử dụng chữ Nôm.

Phải đến khi người Pháp dùng các biện pháp chế tài mạnh mẽ thì chữ Quốc ngữ mới bắt đầu được dùng. Ngày 22.2.1869, Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho trong các công văn ở Nam Kỳ vốn do người Pháp cai trị khi đó. Trước đó, năm 1861, một trường dạy tiếng Việt được thiết lập ở Sài Gòn để đào tạo những viên thông ngôn người Pháp.

Nghị định 82 ký ngày 6. 4. 1878 do Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký cũng đề ra cái mốc hẹn trong bốn năm (tức năm 1882) thì phải chuyển hẳn sang chữ Quốc ngữ: “Kể từ mồng một Tháng Giêng năm 1882 tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh, án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng chữ Quốc ngữ; nhân viên nào không thể viết thơ từ bằng chữ Quốc ngữ sẽ không được bổ nhậm và thăng thưởng trong ngạch phủ, huyện và tổng...”

Để khuyến khích việc truyền bá chữ Quốc ngữ, nhà chức trách thuộc địa Nam Kỳ còn ra nghị định ngày 14.6.1880 giảm hoặc miễn thuế thân và miễn sưu dịch cho thân hào hương lý nếu họ biết viết chữ Quốc ngữ

Cũng may là người Pháp áp việc dùng chữ Quốc ngữ ở Nam Kỳ đầu tiên. Người miền nam nhìn chung có tâm lý phóng khoáng và thực dụng nên tiếp nhận việc dùng Quốc ngữ khá dễ dàng. Cuối thế kỉ 19, các trí thức Nam Kì như cụ Trương Vĩnh Kí, Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Tống, Trương Minh Kí, Nguyễn Trọng Quản... là những người đi đầu trong chủ trương truyền bá chữ Quốc ngữ và phát triển tiếng Việt.

Khi người Việt ở Nam Kỳ nhận thấy sự tiện lợi của chữ Quốc ngữ thì chính quyền Pháp bắt đầu tạo áp lực để dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán ở Bắc và Trung Kỳ vào đầu thế kỷ 20. Triều đình Huế lúc này đã quá suy yếu nên đành phải nhượng bộ trước áp lực của người Pháp. 

Năm 1910, chính phủ Đông Pháp mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ, giao cho Nha Học chính giảng dạy ở Bắc Kỳ. Năm 1915 thì kỳ thi Hương cuối cùng diễn ra ở Bắc Kỳ mặc cho sự chống đối của giới sĩ phu. Ở Trung Kỳ thì đạo dụ của vua Khải Định ngày 26 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ (tức ngày 28.12.1918) chính thức bãi bỏ khoa cử và năm 1919 là năm cuối mở khoa thi ở Huế.

Thượng thư bộ Học là Cao Xuân Dục có công văn trả lời Toàn quyền Đông Dương với ý tán đồng "cả nước cùng học chữ Quốc ngữ La Tinh, tuyển chọn các vị cử nhân, tú tài, tôn sinh, ấm sinh người bản quốc sung làm giáo sư và thành lập viện dịch chữ Quốc ngữ... Nay vâng mệnh Hoàng đế bản quốc lập ra trường chuyên dạy thứ chữ này chính là muốn thống nhất một lối dùng làm thứ chữ dạy học phổ thông”.

Trong việc phát triển chữ Quốc ngữ, người Pháp có chủ trương và toan tính riêng phục vụ lợi ích của họ. Tuy nhiên, việc này lại mang rất nhiều tiện lợi cho người Việt Nam khi chúng ta không còn phụ thuộc vào hệ thống chữ Hán khó đọc, khó nhớ nữa. Các nhân sĩ tiến bộ ngoài Bắc cũng nhanh chóng nhận ra lợi ích của chữ Quốc ngữ để kêu gọi mọi người hưởng ứng rộng rãi. Đầu thế kỉ 20 ở ngoài Bắc, hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) cũng đã dấy lên phong trào học chữ Quốc ngữ, coi chữ Quốc ngữ là phương tiện khai hoá quốc dân. Các cụ khẳng định:

Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước

Phải đem ra tính trước dân ta

Sách các nước, sách Chi Na

Chữ nào chữ ấy dịch ra cho tường.

Trong Văn minh tân học sách của Đông Kinh Nghĩa Thục, có đoạn viết: "Người trong nước đi học nên lấy chữ Quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên để trong thời gian một vài tháng, đàn bà, trẻ con đều biết chữ và người ta có thể dùng Quốc ngữ để ghi việc đời xưa và chép việc đời nay... Đó thực là bước đầu tiên để mở mang trí khôn vậy".

Có lẽ điều người Pháp không thể ngờ rằng chữ Quốc ngữ chính là phương tiện để người Việt phổ biến, hun đúc lòng yêu nước, tinh thần đòi độc lập.

Việc chúng ta chuyển từ Hán tự sang chữ Quốc ngữ cũng phải trả một cái giá, đó là hầu hết người Việt Nam ta không đọc được chữ các cụ ngày xưa (nhất là khi vào đền chùa). Tuy nhiên, cái giá đó quá rẻ so với việc đại bộ phận người dân biết chữ thay vì chỉ một số nhỏ biết chữ Hán thời phong kiến.

Thế nhưng, nếu cải cách chữ theo như đề xuất của PGS.TS Bùi Hiền - tác giả công trình nghiên cứu cải tiến bảng chữ cái tiếng Việt thì e rằng thế hệ sau này xa lạ với các dòng chữ mà chúng ta viết hiện giờ. Cái giá khi đó lại trở thành quá đắt.

Anh Tú

Bài viết có tham khảo thông tin trong bài Chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam qua các thời kì lịch sử của GS-TS Nguyễn Thiện Giáp

 
hotline
Quảng cáo: 091 2161163
Nội dung: 090 186 3399
 
TIN LIÊN QUAN
 
 
 
Bình luận 5
07/12/17PHẢN HỒI
Cải cách là đúng nhưng cải cách theo gs hiển thì k hợp lý lắm.
07/12/17PHẢN HỒI
Chữ quốc ngữ đã giúp người Việt hội nhập nhiều mặt của thế giới văn minh Tây phương .Giờ đây những thế hệ sau phải nâng niu , giữ gìn chử quốc ngữ phát triển tốt đẹp ( chứ không phải như ông GS Bùi Hiền ) . Giữ cho tiếng Việt , chữ quốc ngữ vẹn toàn là giữ gìn bản sắc văn hóa người Việt , làm nền tảng để người Việt lĩnh hội những văn minh , khoa học kỹ thuật ưu việt của phương Tây nhanh hơn nữa , chống lại sự Hán hóa người Việt của phương Bắc .
07/12/17PHẢN HỒI
Đồng tình với nhận xét của tác giả. Cái giá phải trả khi chuyển từ Hán tự là hầu hết người Việt Nam ta không đọc được chữ các cụ ngày xưa (nhất là khi vào đền chùa) là quá rẻ so với lợi ích nó mang lại là giúp cho đại bộ phận người dân biết chữ thay vì chỉ một số nhỏ biết chữ Hán thời phong kiến. Tuy nhiên cái giá phải trả nếu cải cách chữ theo như đề xuất của PGS.TS Bùi Hiền -là các thế hệ sau này xa lạ với các dòng chữ mà chúng ta viết hiện giờ là quá đắt. Hơn nữa đó đã phải là sản phẩm tốt hơn không thì chẳng ai dám chắc được.
06/12/17PHẢN HỒI
"..Sách các nước, sách Chi Na..". Hay thật, các cụ ta ngày xưa đã gọi nước Tàu là "Chi Na" rồi.
Gửi bình luận
Họ và tên *
E-mail *
Tiêu đề
Nội dung *
 
 
 
 
 
 
XEM NHIỀU NHẤT
 
 
 
 
 
 
  • Bình Luận

    Bình luận

    Sau một thời gian tạm lắng, dư luận tiếp tục ồn ào xung quanh chuyện đề xuất cải tiến chữ tiếng Việt của PGS.TS Bùi Hiền được vào đề thi Ngữ văn một số trường THPT. Có nhiều ý kiến phản ứng gay gắt về cách làm này.

  • Bình Luận

    Bình luận

    Học thuyết kinh tế của John M. Keynes diễn tả trong tác phẩm nổi tiếng của ông (Lý thuyết tổng quát về nhân dụng, lợi tức và tiền tệ) đã nhấn mạnh đến các hiện tượng tiêu cực mang tính phổ biến ở các nước kinh tế chậm phát triển, làm cho các nước đó càng luẩn quẩn trong vòng chậm tiến.

  • Bình Luận

    Bình luận

    Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM Lê Hồng Sơn trả lời đại biểu tại phiên chất vấn kỳ họp thứ 6, HĐND sáng 6.12 về biên soạn sách giáo khoa rằng, sau khi biên soạn xong, bộ sách sẽ được trình lên Bộ GD-ĐT để bộ phê duyệt trước rồi mới thực hiện, tất nhiên phải hoàn tất trước khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới.

  • Quốc Phong

    Nhà báo

    Trong tổng số 88 trạm thu phí BOT trên cả nước thì trong đó đã có đến 13 trạm "có vấn đề" kiểu như Cai Lậy, Tào Xuyên... và Bộ GTVT cùng các bộ, ngành liên quan đã cho điều chỉnh phí thì cũng rất cần truy tiếp xem có bao nhiêu nhóm lợi ích can thiệp vào nó để đến nông nỗi này?

  • Nguyễn Công Khế

    Nhà báo

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã quyết định một việc rất đúng vào buổi chiều hôm qua, là tạm dừng thu phí ở trạm BOT Cai Lậy 30 ngày để làm rõ tính pháp lý cũng như những khuất tất bên trong trạm BOT này.