ngày 12 tháng 12 năm 2017
Bàn tròn lịch sử
 

Độc giả phản hồi bài viết 'Vì sao các nhà sư phương Bắc tìm đến đất Việt tu hành?'

In bài viết
  Sau khi đăng bài "Vì sao các nhà sư phương Bắc tìm đến đất Việt tu hành?", báo điện tử Một Thế Giới nhận được rất nhiều phản hồi. Chúng tôi xin trích đăng các ý kiến của một số độc giả tâm huyết với vấn đề trên.

I/ Tôi là Mật Quang Minh , người đã từng đối luận với Thiên Lang về những sai lầm của bạn khi bạn phân tích các luận điểm của TS Tôn Giáo Dương Ngọc Dũng ở Chùa Ngọc Hoàng . Khi đọc bài viết "Vì sao các nhà sư phương Bắc tìm đến đất Việt tu hành?”  Tôi không  khỏi thắc mắc vì những suy luận của độc giả  hoàn toàn nằm ngoài quỹ đạo chánh pháp Phật đà. Sau đây , tôi xin trao đổi rõ hơn với độc giả Thiên Lang qua một số nội dung sai lệch, thiếu căn cứ  theo tri kiến Phật học qua đoạn cụ thể đoạn trích

 “Mặc dù truyền bá tư tưởng Thiền học, nhưng hành trạng truyền pháp của Tỳ Ni Đa Lưu Chi có sự xuất hiện của dấu ấn Mật tông. Trong câu nói với Pháp Hiền về việc Tăng Xán truyền đạo cho mình, sư có đề cập đến tâm ấn, một khái niệm hay dùng trong Mật giáo. Một minh chứng rõ ràng hơn là việc sư đã dịch kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì, một kinh có yếu tố Mật giáo rất rõ. Mật giáo phát triển từ thế kỷ thứ 4, đến thế kỷ thứ 8 thì được hệ thống hóa thành Mật tông, hay Kim Cương thừa. Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh, ngoài thiền định và tinh tấn thì còn hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết… Việc hành pháp này trở nên dễ dàng tiếp cận với xã hội đa thần của Việt Nam. Mặc dù không được ghi chép thành một tông phái chính thức, những nhà sư có ảnh hưởng của Mật giáo vẫn xuất hiện rất nhiều trong lịch sử Việt Nam” toàn bộ bài viết, Thiên Lang không hề đưa ra dẫn chứng cụ thể nào để bảo vệ cho luận điểm của mình. Sau đây là những sai lầm cơ bản:

1) Không phân biệt được rõ  khái niệm “ Giáo” và “ Tông”

Thiên Lang cho rằng ” Mật giáo phát triển từ thế kỷ thứ 4, đến thế kỷ thứ 8 thì được hệ thống hóa thành Mật tông..” Bạn  không phân biệt nổi thế nào là “giáo” thế nào là “tông” mà cứ theo tâm ý mình để viết, Mật Giáo là nói đến giáo pháp, giáo điển, còn Mật Tông là nói đến phương pháp hành trì. Đây là phần lý và sự của Mật Tông. Không biết bạn dựa vào kinh điển nào mà nói rằng từ “giáo”, chuyển thành “tông”. Trong khi hai mặt của vấn đề lúc nào cũng tồn tại song song, không tách rời. Điều này bạn đã nhầm lẫn  về ý nghĩa phạm trù khi trao đổi.  Ngoài ra độc giả chưa hiểu rõ được khái niệm “ tâm ấn”.  đoạn trích“sư có đề cập đến tâm ấn, một khái niệm hay dùng trong Mật giáo” ,Thực tế thuật ngữ “tâm ấn” được sử dụng rất nhiều trong đạo Phật, nhất là Thiền Tông. Vậy sao áp đặt chỉ có Mật Tông mời sử dụng. Trong kinh Tứ thập nhị chương, đức Thế Tôn đã khuyến cáo: “Này các ông, đừng tin vào tâm ý của mình. Tâm ý của mình không đáng tin cậy. Đừng tin vào tâm ý của mình khi chưa đắc thánh quả”.

2) Lập luận sai  giáo pháp của đức Thế Tôn.

Bạn nói ”Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh, ngoài thiền định và tinh tấn thì còn hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết…”. Đây là phát biểu hết sức khinh suất, báng bổ giáo pháp Thế Tôn. “Tôn thờ thế lực siêu nhiên thần linh” là những gì? Tất cả các Phật tử đều hiểu rõ; đã quy y Tam bảo, phật tử không được thờ Thiên, Thần, Quỷ, Vật, thì làm sao có thể thờ thế lực siêu nhiên thần linh? Đã là Phật tử, hành giả phải có chánh kiến trong tôn kính: thờ những bậc đáng thờ, kính những bậc đáng kính. Thờ tự như vậy chỉ do ảnh hưởng của mê tín dị đoan và gieo rắc tà kiến cho chúng sanh..Bạn cho rằng Mật Tông hành pháp bằng “bùa chú”. Chữ “bùa chú” chỉ dành cho đám linh căng, ngoại đạo, sao lại đem vào cửa Thiền như vậy. Mật Tông chỉ hành trì THẦN CHÚ, đây là bản tâm chư Phật, chư Bồ Tát lưu suất nhằm lợi lạc chúng sanh tu học, bảo hộ tâm thức của người tu Mật Tông. Đối với người tu Phật phải tự thắp ngọn đuốc chánh kiến lên mà đi, chứ không phải dựa dẫm vào chư Phật, chư Bồ Tát. Việc hành trì Thần Chú là theo tinh thần “Tự lực hành pháp, tha lực hộ trì” của hành giả Mật Tông. Mọi pháp tu đức Phật chỉ ra chỉ có một mục đích duy nhất là giải thoát khỏi sinh tử, điều này được ghi rõ trong kinh Pháp Hoa, Phật thuyết: “Chư Phật chỉ dùng một cỗ xe duy nhất đưa đến giải thoát (Nhất thừa Phật đạo), không có hai mà cũng chẳng có ba”, và trong Tiểu Bộ và Tăng Chi Bộ của kinh tạng nguyên thủy, Ngài cũng dạy rằng: “Như tất cả các đại dương đều có cùng một vị mặn, các giáo pháp của Ta cũng chỉ có một vị duy nhất, đó là vị giải thoát.”

Một trong những nguyên lý Phật gia mà Đức Phật đã dạy là Tứ y cứ (Bốn căn cứ quy chuẩn biện chứng) là :

  • Y pháp bất y nhân
  • Y nghĩa bất y ngữ
  • Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa,
  • Y trí bất y thức.

o Y pháp bất y nhân: nghe theo yếu nghĩa Phật pháp, không phải vì ai mà nghe theo (kinh Kalama chỉ rõ điều này)
o Y nghĩa bất y ngữ: dựa vào yếu nghĩa mà hiểu kinh văn, không chấp nhặt từ ngữ bởi vì có nhiều trường hợp kinh văn bị thêm vào, cắt xén, chỉnh sửa lệch quỹ đạo Chánh pháp, gọi là ngụy kinh, ngụy thư.
o Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa: theo yếu nghĩa giải thoát rốt ráo, mục đích tối thượng, cứu cánh Niết bàn, chớ đừng bám chấp và dừng lại ở ý nghĩa phàm tình là nhân của quả làm Người, Trời, Quỷ, Thần
o Y trí bất y thức: Trí là tuệ tri giải thoát, Thức là phân biệt mang tính chất thế gian, gây nhân luân hồi. Do vậy, hiểu kinh văn chính thống phải hiểu theo Trí, đừng dùng tâm phàm phu mà ngợi ca hay phỉ báng.

Theo quan kiến Phật đà, người đã Quy y Phật, Pháp, Tăng sẽ không thờ cúng thiên, thần, quỷ, vật, và chính Đức Phật đã dạy: “Thờ những bậc đáng thờ. Kính những ai đáng kính. Đó là chân hạnh phước” ( theo Kinh “Ba mươi bảy phước báu tối thượng”) đồng thời banh còn cho rằng:” Việc hành pháp này trở nên dễ dàng tiếp cận với xã hội đa thần của Việt Nam”. Như vậy theo suy nghĩ của Thiên Lang  một tông phái tu Phật thành một đạo thờ quỷ thần. Giáo pháp Như Lai có muốn truyền vào nơi nào thì phải có tính dân tộc, tính thời đại, tính quốc độ, nhưng vẫn là tinh túy cam lồ, giúp chúng sanh giải thoát. Chứ không có việc gá tạm vào tôn giáo đa thần, ngoại đạo. Trong khi tu Phật là “duy tuệ thị nghiệp”, giải thoát khỏi luân hồi chứ không phải vì những mưu cầu thế gian thấp kém như vậy.

Phải chăng những suy nghĩ chủ quan của bạn có vấn đề? Bởi lẽ đức Phật đã chỉ rõ trừ hàng Bồ tát với nguyện lực độ sanh mà tái sanh vào cuộc đời, còn lại tất cả chúng ta có mặt ở đời do nghiệp sanh. Vì lẽ ấy, cấu uế hay những phiền não tồn tại trong tâm mỗi con người là chuyện bình thường. Vấn đề là phương thức chuyển hóa những cấu uế đó thế nào, nhất là đối với những ai thiết tha với sự nghiệp thanh lọc và thăng hoa tâm.Thế Tôn đã trao truyền một phương thức chuyển hóa cấu uế rất đơn giản và hiệu quả. Đó là thiết lập tuệ tri thường trực về thân tâm. Tuệ tri là nhìn rõ, thấy biết thân tâm với sự tỉnh táo, tuệ giác và chánh niệm. Một sự nhận diện chính mình trung thực, nhận thức tự nội và ngoại giới như chính nó là tuệ tri. Chỉ cần tuệ tri, tự khắc chúng ta sẽ được soi sáng và biết “hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”

Biết quay về nhìn lại chính mình, theo quan điểm của Thế Tôn, đó là hạng người ưu thắng. Tâm mình có phiền não, cấu uế hay không phải biết rõ, nếu có phải nỗ lực đoạn trừ còn nếu không thì phải cảnh giác với các cấu uế có thể khởi lên. Đây là cách “chăn” tâm hiệu quả nhất.

Ngược lại, không rõ biết về thân tâm của mình, ngay cả khi tâm của mình, ngay cả khi tâm vắng lặng mà không tuệ tri thì vẫn là hạng người hạ liệt. Sự hạ liệt ở đây là không nhận thức rõ cái ác đang hiện hữu và những ác pháp khác đang tiềm ẩn, sẵn sàng bùng phát bất cứ lúc nào. Một kẻ “chăn trâu” mà chẳng để ý, không thấy con trâu của mình thì rất nguy hiểm và đáng trách.Điều này đức Phật đã xác quyết qua câu chuyện trích trong Kinh không uế nhiễm: “ Một thời, Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Jetavana. Tại đây, Tôn giả Xá Lợi Phất dạy các Tỷ kheo:

 “Này chư Hiền, ở đời có bốn hạng người. Thế nào là bốn ? Ở đây, có hạng người có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri “Nội thân ta có cấu uế”. Ở đây, có hạng người có cấu uế và như thật tuệ tri “Nội thân ta có cấu uế”. Ở đây, có hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri “Nội thân ta không có cấu uế”. Lại nữa, có hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri “Nội thân ta không có cấu uế”.

Này chư Hiền, hai hạng người có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri “Nội thân ta có cấu uế” và hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri “Nội thân ta không có cấu uế” được gọi là hạng người hạ liệt. Hai hạng người có cấu uế và như thật tuệ tri “Nội thân ta có cấu uế” cùng hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri “Nội thân ta không có cấu uế” được gọi là hàng ưu thắng.

(ĐTKVN, Trung Bộ I, kinh Không uế nhiễm [lược], VNCPHVN ấn hành 1992, tr.59)”

Trong kinh Pháp cú đức Phật đã khuyến cáo rằng
“Người ngu nghĩ mình ngu,
Nhờ vậy thành có trí.
Người ngu tưởng có trí,
Thật xứng gọi chí ngu.”
(kinh Pháp Cú – Phẩm Ngu)
Do Vậy, những suy luận của Thiên Lang không căn cứ trên quan điểm Phật đà đã reo rắc tà kiến, làm sai lệch chánh pháp Phật môn. Điều này sẽ làm cho Phật giáo bị xen tạp, ô nhiễm , mang tính dị đoan  trong khi Đảng và nhà nước đang tăng cường bài trừ những tệ nạn mê tín , dị đoan. Tôi hi vọng bạn Thiên Lang sẽ cân nhắc các ý chủ quan của mình để tránh những sai lầm vừa qua bởi lẽ  Đức Phật cũng đã dạy rằng  “Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống quán thên trên tự thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để có thể diệt trừ tham sân ở đời, trên các cảm thọ... trên các tâm... sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để có thể diệt trừ tham sân ở đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy Chánh pháp làm ngọn đèn, lấy Chánh pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác. Trích Kinh trường bộ 2 phẩm Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống.

Lời kết , Mật Quang Minh xin  trích lời đức Phật  đã chỉ dạy rất rõ trong kinh Hiền Ngu  Trang 501- NXB Tôn giáo “này các Tỷ-kheo, người trí tư duy thiện tư duy, nói lời thiện ngữ và hành các thiện hành. Này các Tỷ-kheo, nếu người trí không tư duy thiện tư duy, không nói lời thiện ngữ, không hành các thiện hành, thời làm sao kẻ trí biết được người ấy: “Vị này là người trí, là bậc chơn nhân?” Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, người trí tư duy thiện tư duy, nói lời thiện ngữ, hành thiện hành, do vậy người trí biết người ấy: “Vị này là người có trí, là bậc chơn nhân.” Người trí ấy, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại cảm thọ ba loại lạc hỷ.”

Mật Quang Minh

II/ Tôi là Mật Hạnh Giác, thế danh Phạm Đức Dũng, đã từng viết bài “Nếu Tổng thống Obama muốn quy y đạo Phật thì chẳng ai có quyền ngăn cản” đăng trên báo điện tử Một Thế Giới ngày 05/06/2016. Tôi muốn trao đổi với ông một số vấn đề trong bài viết Vì sao các nhà sư phương Bắc tìm đến đất Việt tu hành?

1 Sự ngộ nhận về Mật Tông: bài viết của Thiên lang bộc lộ thái độ vô cùng khinh suất khi gượng ép “hành trạng truyền pháp” của sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi với Mật Giáo. Chỉ thông qua hai sự kiện, một là ông ấy đề cập đến “tâm ấn”, hai là ông ấy dịch một bộ kinh “có yếu tố Mật Giáo rất rõ là bằng chứng. Lại nữa, chắc ông chưa biết Học Giả Nguyễn Minh Tiến dịch đến 6-7 quyển sách của Đức Đại Lai Lạt Ma thứ 14 nhưng chẳng phải hành giả Mật Tông, lại còn có những phát biểu chưa chuẩn về việc ăn chay mới tu được pháp tu Mật Giáo. Hoàn toàn xa rời thực chất tu tập. Từ những điều này, tôi khẳng định việc xác quyết của Thiên Lang về hành trạng người tu Mật Tông là hoàn toàn sai lầm. Mật Tông là một tông phái đạo Phật, như vị Thầy đã dạy, mật Tông hay Yoga Tây Tạng là sự hợp nhất Thân-Ngữ-Tâm. Hoàn toàn không phải ở việc đề cập, bắt vài ba ấn quyết rồi dịch sách là thành hành trạng của người tu Mật! Ông phân biệt tông phái mà không dựa vào Giáo Pháp, Giáo Điển mà dựa vào hình thức bề ngoài hay sao?  Lời phát biểu của ông rơi vào tình trạng 1 trong 14 điều thất bại trầm trọng của thánh giả Gampopa: “Cho những kinh nghiệm tâm linh khởi lên từ những phương tiện là tối thượng mà không thấu đáo bản chất chân thật của sự vật và hiện tượng, cũng giống như nhầm lẫn đồng là vàng. Đây là một thất bại trầm trọng”.

2/ Từ sai lầm vô minh này, ông tiếp tục luận giải quàng xiên về Mật Tông rằng: “Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh, ngoài thiền định và tinh tấn thì còn hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết…” Này Thiên Lang, ông nhầm lẫn tai hại giữa “Giáo” và “Tông” đã đành, nhưng ông quy cho Mật Tông “tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh” và “hành pháp bằng bùa chú”…là quá sức tưởng tượng! Đức Phật đã huấn thị rất rõ rằng “Quy y Phật không thờ Thiên, Thần, Quỷ, Vật” bởi tất cả những đối tượng trên không phải là nơi nương tựa chân thật. Ông nói Mật Tông như thế khác nào ngầm bảo Mật Tông đi ngược với lời dạy của Đức Phật?! Thiên Lang tiếp tục phạm sai lầm khi bảo rằng “ngoài thiền định và tinh tấn thì còn hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết…”.

 Vai trò quan trọng nhất của Trí Tuệ Ba La Mật thì không thấy nhắc tới, như Thánh tăng Thogme Zangpo từng khẳng định: “Có năm Ba-la-mật (tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định) mà thiếu Trí huệ Ba-la-mật thì không thể dẫn tới đạo quả. Bởi vậy, hãy kết hợp các phương tiện thiện xảo cùng với trí huệ để khỏi lạc vào ba cõi…” Từ đây có thể thấy Thiên Lang đã phạm sai lầm lộng ngôn về phương pháp hành trì của Mật Tông, đồng thời bộc lộ sự kém hiểu biết về Lục Độ Ba La Mật. Ông còn nhầm lẫn khinh suất “bùa chú” thay vì từ đúng ở đây là “thần chú”. Người tu Phật hành trì thần chú vì thần chú là Bản Tâm chư Phật, có công năng bảo hộ tâm thức người tu. Ở trong Phật Giáo không có “bùa”, vốn là từ để chỉ phương thuật trong các tín ngưỡng dân gian và Đạo Giáo.

3/ Đức Đại Lai Lạt Ma 14 đã cảnh báo rằng: “Những ai nói sai về Mật Giáo sẽ không còn thân mạng để tiếp tục”. Cũng như Đức Phật đã dạy rằng : “Tin ta mà không hiểu ta, tức là phỉ báng ta vậy!”. Đức Phật đã cảnh báo về tội vọng ngữ, “Đừng tin theo ý mình khi chưa đắc Thánh Quả” trong kinh 42 chương Thánh giả Gampopa: “Tìm cách dạy Giáo pháp cho người khác mà tự mình không trải nghiệm, cũng giống như một người mù dẫn dắt một người mù. Đây là một thất bại trầm trọng”.

Phạm Đức Dũng

III/ Kính gởi Ban biên tập Báo điện tử Một Thế giới, Tôi tên là Phạm Ngọc Dung, là độc giả thường xuyên của quí báo. Tôi cũng là một Phật tử. Tôi đọc được tựa đề:” “Vì sao các nhà sư phương Bắc tìm đến đất Việt tu hành?”, của tác giả Thiên Lang, đăng ngày 13/6/2016 và tui có vài lời muốn trình bày luận điểm của tôi như sau:

1/ Thiên Lang viết “ Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh, ngoài thiền định và tinh tấn thì còn hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết… Việc hành pháp này trở nên dễ dàng tiếp cận với xã hội đa thần của Việt Nam.” Không biết Thiên Lang trích dẫn ở đâu mà nếu ra Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh trong khi đó Mật giáo không phải tông phái mà là giáo pháp, giáo điển nên phải nói là Mật tông mới đúng. Mật Tông là một trong những tông phái của Đạo Phật”được xã hội đã công nhận tính chất tích cực của họ vì mọi sự đã được chứng minh qua lịch sử phát triển là Đạo Phật mà người lãnh đạo Mật Giáo là Đức Đạt lai Lạt ma 14, người nhận giải Nobel Hòa Bình, và Pháp vương Gyalwang Drukpa 12 LÀ NHỮNG BẬC LÃNH TỤ MẬT TÔNG TÂY TẠNG. Mà Đạo Phật giương cao ngọn cờ chánh kiến để làm trạch pháp nhãn để soi sáng, do đó chánh kiến luôn đứng đầu trong Bát Chánh Đạo là nền tảng của trí tuệ trong Chuyển Pháp luân: “Này các Tỳ kheo, thế nào là Trung đạo do Như lai chánh giác chứng ngộ, phát sinh sự thấy, sự hiểu, đưa đến an tịnh, thắng trí, Niết bàn? Ðó là Bát chánh đạo, tức là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định”.Chánh kiến có 4 khía cạnh tu duy trong đó có chánh kiến trong thờ tự, (Quy y Phật không thờ Thiên, Thần, Quỷ, Vật), “Bị trói buộc trong ngục tù sanh tử luân hồi, làm sao những vị trời phàm tục có thể hộ trì cho ta được? Bởi vậy, có quy y thì hãy quy y nơi Tam Bảo, nơi nương tựa chân thật. Đó là pháp hành Bồ tát đạo.”, Chánh kiến về tôn kính (Thờ những bậc đáng thờ, Kính những người đáng kính) thì lấy đâu ra tôn thờ các thể lực thần linh???

Lại nữa, Thiên Lang viết Mật giáo còn “ hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết” trong khi đó Thần chú trong Mật Tông ở đây theo tiếng Phạn là “Mantra” có nghĩa là “bảo hộ tâm thức” thoát khỏi uế trược, phiền não , Thần chú là bản tâm của chư Phật, là mật ngữ của chư Phật, của chư đại Bồ tát, lưu xuất từ những lần đại định tam muội, đúc kết tất cả tinh ba vi diệu trong vũ trụ”( trích tác phẩm “Một đời người một câu thần chú”) thì nay trở thành hành pháp mà mục đích này là “hành pháp này trở nên dễ dàng tiếp cận với xã hội đa thần của Việt Nam” thật là phi lý? Đó là một lập luận khinh suất, thiếu cẩn trọng, không thể chấp nhận được với những màu sắc huyền bí dễ gây ngộ nhận đế bao người, đem đến cho họ những điều sợ hãi với Mật tông.

Phạm Ngọc Dung

IV/ Gửi toà soạn báo điện tử Một Thế giới, Tôi tên là Lê Thị Bảo Quỳnh, cư trú tại đường Đoàn Văn Bơ, Quận 4, TP HCM. Vừa qua, tôi đã đọc bài viết của tác giả Thiên Lang : “Vì sao các nhà sư phương Bắc tìm đến đất Việt tu hành?” được đăng trên trang chủ báo Một Thế giới. Sau khi đọc xong, tôi có cảm giác bài viết nghiêng về đề tài lịch sử Trung Quốc hay đề tài điện ảnh (cổ trang) chứ không liên quan gì đến chủ đề Phật giáo nói chung, Mật giáo nói riêng với một số lý do như sau:

1. Những gì tác giả Thiên Lang trình bày trong bài viết hoàn toàn không toát lên được trình độ gì cả vì lối lập luận không có cơ sở luận chứng, luận cứ, văn phong cục bộ, tinh thần viết thiếu khách quan do nguồn trích dẫn giới hạn. Thiên Lang chỉ là một “người ngoài cuộc” trên trận chiến tâm linh. Một chiến binh muốn ra trận, ít nhất cũng đã từng được đào tạo bài bản về nguyên tắc chiến đấu. Cho dù “to xác” mà không có sự đào tạo, không “quán triệt” tinh thần chiến đấu chung thì chẳng có lợi ích gì.

2. Nguồn trích dẫn: Bốn nguồn tài liệu mà tác giả Thiên Lang dựa vào để “biên tập” lại thành nội dung bài báo cho thấy sự hời hợt trong việc tổng hợp và đánh gía thông tin: – Việt Nam Phật giáo sử luận: mặc dù không ghi chép tên tác giả song có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin về “Việt Nam Phật giáo sử luận” là của Giáo sư Nguyễn Lang. Từ địa vị xã hội của tác phẩm là một “giáo sư”, cho thấy quyển này chỉ nằm trong giới hạn là một quyển sách bình luận về lịch sử theo cách nhìn chủ quan của tác giả. Nói về Phật pháp, phải dựa trên những lời dạy của Đức Phật và chư thánh chúng, những bậc chứng đắc. Tinh thần chung của đạo Phật là “duy tuệ thị nghiệp” chứ không phải là “duy lịch sử thị nghiệp”. Một tác phẩm cho dù có bề dày lịch sử, song không phản ánh đúng tinh thần này của Đức Phật đều không có giá trị vì không mang đến sự giải thoát khỏi sanh tử luân hồi. – Thiền Uyển tập anh: chỉ là một tác phẩm văn xuôi được viết bằng chữ Hán, ghi lại hệ thống các tông phái Thiền học và sự tích các vị Thiền sư nổi tiếng vào cuối thời Bắc thuộc cho đến thời Đinh, Lê, Lý và một số vị đời Trần.

Thứ nhất, đây chỉ được coi là một tác phẩm văn xuôi, có nghĩa chỉ có giá trị trong lĩnh vực văn học – một hình thức nghệ thuật ngôn từ, sử dụng sự sáng tạo trong ngôn ngữ làm chất liệu để xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện đời sống. Thứ hai, cho đến nay không một ai xác nhận một cách chính xác lai lịch tác giả của tác phẩm này – đồng nghĩa tác phẩm này không có giá trị kiểm chứng và trải nghiệm về Phật học. Những nhân vật lịch sử cho dù để lại tên tuổi cho đời sau bằng sở học nổi bật song nếu không phải là những bậc đắc thánh quả thì lời nói không đáng tin cậy. Bởi Đức Phật đã dạy rằng:”Chưa đắc thánh quả đừng tin vào tâm ý của mình”. – Cao tăng truyện (hay còn được gọi là Lương cao tăng truyện) và Đại Đường cầu pháp cao tăng truyện: là bộ tuyển tập truyện ghi chép sự tích các nhà sư nổi tiếng của Trung Quốc. Các “tác phẩm” này thực tế chỉ có giá trị giải trí chứ chẳng thể với đến giá trị nghệ thuật, huống chi là giá trị về mặt tâm linh.

3. Do không dựa trên tinh thần chung là “Duy tuệ thị nghiệp” dựa trên những lời dạy của Đức Phật, toàn bộ suy luận trong bài viết thể hiện tư duy bất cẩn, lập luận sơ hở, phiến diện, một chiều. Ví dụ: – Trong câu nói với Pháp Hiền về việc Tăng Xán truyền đạo cho mình, sư có đề cập đến tâm ấn, một khái niệm hay dùng trong Mật giáo: Vậy khái niệm“tâm ấn” là gì? Được dùng trong những kinh điển nào của Mật giáo? – “Một minh chứng rõ ràng hơn là việc sư đã dịch kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì, một kinh có yếu tố Mật giáo rất rõ” – Yếu tố Mật giáo là yếu tố gì? Hoàn toàn không có sự luận giải để chứng minh cho điều mà Thiên Lang gọi là “rất rõ”. – Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh, ngoài thiền định và tinh tấn thì còn hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết… – Chủ trương này do ai thuyết? kinh điển nào đưa ra? Kinh điển nào đưa nội dung “Mật Tông hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết”?! Điều cơ bản nhất đối với một Phật tử chân chính là “Quy y Phật, không thờ thiên, thần, quỷ, vật”, vậy mà Thiên Lang khẳng định Mật giáo tôn thờ các thế lực siêu nhiên, thần linh? Đức Phật đã dạy :” “Như tất cả các đại dương đều có cùng một vị mặn, các giáo pháp của Ta cũng chỉ có một vị duy nhất, đó là vị giải thoát”. Đức Phật chỉ ra 84.000 pháp môn là để tuỳ thuận duyên chúng sanh, cùng một mục đích là giải thoát khỏi sanh tử luân hồi chứ không phải để phân biệt Mật Tông với các tông phái khác. Thần chú trong Mật Tông theo tiếng Phạn là “Mantra” có nghĩa là “bảo hộ tâm thức” thoát khỏi uế trược, phiền não (trích Thần chú là bản tâm của chư Phật, là mật ngữ của chư Phật, của chư đại Bồ tát, lưu xuất từ những lần đại định tam muội, đúc kết tất cả tinh ba vi diệu trong vũ trụ”( trích tác phẩm “Một đời người một câu thần chú”) chứ không phải sử dụng phương tiện ma mị là bùa chú! – Việc hành pháp này trở nên dễ dàng tiếp cận với xã hội đa thần của Việt Nam – Một người mặc nhiên thừa nhận xã hội đa thần, gián tiếp đồng tình với mô típ xã hội tà kiến như vậy lẽ nào xứng đáng luận bàn, giảng giải về Phật pháp? Tóm lại, cách lập luận trong bài viết của Thiên Lang theo kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Với hàng loạt dẫn chứng không chính thống về Thiền tông, Thiên Lang suy ra lịch sử và cốt lõi của Mật Tông. Khi luận bàn về Phật giáo đáng lẽ với mục đích tối thượng là đạt tới sự giải thoát, Thiên Lang lại đi sâu vào bàn về các thế lực siêu nhiên thần linh. Với những lập luận chủ quan của mình, tác giả Thiên Lang của bài báo “Vì sao các nhà sư phương Bắc tìm đến đất Việt tu hành?” có thể làm thay đổi suy nghĩ của  độc giả. Họ có thể tin tưởng những suy luận của Thiên Lang và có cái nhìn lệch lạc về Phật giáo Mật Tông.

Lê Thị Bảo Quỳnh

V/ Tôi tên là Trần Hồng Tiến, là độc giả thường xuyên của Quý Báo. Tôi cũng là một Phật tử. Tôi đọc được tựa đề:” “Vì sao các nhà sư phương Bắc tìm đến đất Việt tu hành?”, của tác giả Thiên Lang, đăng ngày 13/6/2016. Tôi xin phân tích trích đoạn của Thiên Lang: Trích đoạn: “Mặc dù truyền bá tư tưởng Thiền học, nhưng hành trạng truyền pháp của Tỳ Ni Đa Lưu Chi có sự xuất hiện của dấu ân Mật tông. Trong câu nói với Pháp Hiền về việc Tăng Xán truyền đạo cho mình, sư có đề cập đến tâm ấn, một khái niệm hay dùng trong Mật giáo. Một minh chứng rõ ràng hơn là việc sư đã dịch kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì, một kinh có yếu tố Mật giáo rất rõ. Mật giáo phát triển từ thế kỷ thứ 4, đến thế kỷ thứ 8 thì được hệ thống hóa thành Mật tông, hay Kim Cương thừa. Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh, ngoài thiền định và tinh tấn thì còn hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết… Việc hành pháp này trở nên dễ dàng tiếp cận với xã hội đa thần của Việt Nam. Mặc dù không được ghi chép thành một tông phái chính thức, những nhà sư có ảnh hưởng của Mật giáo vẫn xuất hiện rất nhiều trong lịch sử Việt Nam”… Hết trích.

Thứ nhất, Thiên Lang cho rằng ” Mật giáo phát triển từ thế kỷ thứ 4, đến thế kỷ thứ 8 thì được hệ thống hóa thành Mật tông..” thì Thiên Lang không phân biệt nổi thế nào là “giáo” thế nào là “tông” mà cứ tự tiện theo tâm ý mình mà viết, Mật Giáo là nói đến giáo pháp, giáo điển, còn Mật Tông là nói đến phương pháp hành trì. Đây là phần lý và sự của Mật Tông. Không biết ông ta dựa vào kinh điển nào mà nói rằng từ “giáo”, chuyển thành “tông”. Trong khi hai mặt của vấn đề lúc nào cũng tồn tại song song, không tách rời. Đây đúng là lời nói của kẻ tự tin vào tâm ý mình. Thứ hai, theo ông ta ” Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh, ngoài thiền định và tinh tấn thì còn hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết…”. Đây là phát biểu hết sức khinh suất, không đúng với giáo pháp Thế Tôn. Các “tôn thờ thế lực siêu nhiên thần linh” là những gì? Người tu Phật khi Quy y Tam Bảo, thệ nguyện không thờ thiên, thần, quỷ, vật cớ sao ông ta lại bảo Mật Tông, một tông phái của đạo Phật, lại thờ các thế lực siêu nhiên thần linh, quá sức sai lầm! Ông ta còn cho rằng Mật Tông hành pháp bằng “bùa chú”. Chữ “bùa chú” chỉ dành cho ngoại đạo, sao lại đem vào cửa Thiền như vậy. Mật Tông chỉ hành trì THẦN CHÚ, đây là bản tâm chư Phật, chư Bồ Tát lưu suất nhằm lợi lạc chúng sanh tu học, bảo hộ tâm thức của người tu Mật Tông. Đối với người tu Phật phải tự thắp ngọn đuốc chánh kiến lên mà đi, chứ không phải dựa dẫm vào chư Phật, chư Bồ Tát. Việc hành trì Thần Chú là theo tinh thần “Tự lực hành pháp, tha lực hộ trì” của hành giả Mật Tông.

Thứ ba, ông ta cho rằng:” Việc hành pháp này trở nên dễ dàng tiếp cận với xã hội đa thần của Việt Nam”, nói vậy ông ta biến một tông phái tu Phật thành một đạo thờ quỷ thần. Giáo pháp Như Lai có muốn truyền vào nơi nào thì phải có tính dân tộc, tính thời đại, tính quốc độ, nhưng vẫn là tinh túy cam lồ, giúp chúng sanh giải thoát. Chứ không có việc gá tạm vào tôn giáo đa thần, ngoại đạo, vậy thì còn gì là Đạo Phật nữa. Chính cái kiểu hiểu sai phương tiện như vậy, mà hiện nay chùa chiền đi vào những việc huyền hoặc, cầu siêu, cầu an. Trong khi tu Phật là “duy tuệ thị nghiệp”, giải thoát khỏi luân hồi chứ không phải vì những mưu cầu thế gian thấp kém như vậy. Thứ tư, ông ta cho rằng: “Mặc dù không được ghi chép thành một tông phái chính thức” thật là kết luận quá ấu trĩ, bên trên ông viết “thứ 4, đến thế kỷ thứ 8 thì được hệ thống hóa thành Mật tông”, chưa biết ông ta đúng hay sai, nhưng tự ông ta mâu thuẫn với chính mình. Thực tế thì Mật Tông Tây Tạng được Đại sĩ Liên Hoa Sanh truyền vào Tây Tạng, theo lời mời của đức vua Trisong Detsen. Sao ông ta dám nói không phải là “một tông phái chính thức”.

Thứ năm, ông ta cho rằng “sư có đề cập đến tâm ấn, một khái niệm hay dùng trong Mật giáo” , ông ta có biết tâm ấn là gì không? Thật sao lầm ông nói rằng đây là một khái niệm “hay dùng trong Mật Giáo”, trong khi đó thuật ngữ “tâm ấn” được sử dụng rất nhiều trong đạo Phật, nhất là Thiền Tông. Tôi thật chán ngán cho sự hiểu biết của ông ấy quá, vậy mà ông ta mạnh miệng viết một đoạn với câu từ khẳng định đến như vậy. Ngoài ra còn nhiều cái sai cơ bản về Phật học, nhưng tôi chỉ phân tích những vấn đề có liên quan đến Mật Giáo, gây nhân phỉ báng Chánh Pháp. Tóm lại tôi thật thất vọng với mớ kiến thức chắp vá của Thiên Lang. Ông ta tự ý lập ngôn, trong khi Đức Phật đã khuyến cáo trong kinh Tứ Thập Nhị Chương rằng “Đừng tin vào tâm ý mình khi chưa đạt Thánh Quả”.

Trần Hồng Tiến

VI/ Gửi Thiên Lang, Tôi đọc bài viết của bạn tôi không khỏi thắc mắc vì nó hoàn toàn nằm ngoài quỹ đạo chánh pháp Phật đà. Tôi xin có đôi lời với bạn, mong bạn hoan hỷ đón nhận. Trước hết, nhìn toàn bộ bài viết, Thiên Lang không hề đưa ra dẫn chứng cụ thể nào để bảo vệ cho luận điểm của mình. Chỉ cần đọc đoạn trích này là biết: “Mặc dù truyền bá tư tưởng Thiền học, nhưng hành trạng truyền pháp của Tỳ Ni Đa Lưu Chi có sự xuất hiện của dấu ân Mật tông. Trong câu nói với Pháp Hiền về việc Tăng Xán truyền đạo cho mình, sư có đề cập đến tâm ấn, một khái niệm hay dùng trong Mật giáo. Một minh chứng rõ ràng hơn là việc sư đã dịch kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì, một kinh có yếu tố Mật giáo rất rõ. Mật giáo phát triển từ thế kỷ thứ 4, đến thế kỷ thứ 8 thì được hệ thống hóa thành Mật tông, hay Kim Cương thừa. Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh, ngoài thiền định và tinh tấn thì còn hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết… Việc hành pháp này trở nên dễ dàng tiếp cận với xã hội đa thần của Việt Nam. Mặc dù không được ghi chép thành một tông phái chính thức, những nhà sư có ảnh hưởng của Mật giáo vẫn xuất hiện rất nhiều trong lịch sử Việt Nam” => Cả một đoạn không có một lời thánh tăng hay lời dạy của đức Phật để làm bảo chứng cho luận điểm của Thiên Lang.

Vậy thử hỏi những gì Thiên Lang viết ra đây có đáng tin cậy không? Hay chẳng qua chỉ là vọng ngữ do tâm phóng tưởng? Cho dù cuối bài Thiên Lang có ghi “Nguồn: Việt Nam Phật giáo sử luận, Thiền Uyển tập anh, Cao Tăng truyện, Đại Đường Cầu Pháp Cao Tăng truyện” một cách chung chung cũng không đúng với tinh thần ngũ minh trong Phật học. Trong việc đối luận, để bảo vệ luận điểm, Thiên Lang cần phải trích rõ luận chứng, luận cứ để minh chứng cho những gì mình viết ra theo đúng quỹ đạo chánh kiến Phật đà, chứ không phải theo kiểu luận suông bàn nhảm. Ngoài ra, nếu có trích nguồn còn phải dựa trên tiêu chí tứ y cứ, tứ pháp ấn, ba tinh yếu giác ngộ để giúp chúng sanh lìa mê về giác mới minh định được chánh tà chân ngụy, chứ không phải trích trong các kinh ngụy tạo của Trung Quốc rồi cho rằng sự hiểu của mình là đúng như trường hợp kinh Vu Lan Bồn là hoàn toàn trái với quỹ đạo chánh kiến Phật đà.

Tags:
 
hotline
Quảng cáo: 091 2161163
Nội dung: 090 186 3399
 
TIN LIÊN QUAN
 
 
 
Bình luận 8
30/06/16PHẢN HỒI
Mô Phật! Gửi thiennhan, tôi là Mật Hạnh Giác, hành giả Mật Tông Tây Tạng, dòng phái Ninh Mã, pháp hệ Quán Thế Âm, đạo tràng Mật Gia Song Nguyễn, hội viên CLB UNESCO Khảo cứu và ứng dụng Yoga Tây Tạng, Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng thuộc UIA. Nói rõ ra như vậy để thiennhan biết chúng tôi không đến từ một “ổ mật tông” vô danh nào đó mà ông thêu dệt. Và cũng như hoàn toàn “danh chính ngôn thuận” trên luận trường với ông. Còn thiennhan thì sao? Tôi không thấy ở ông một pháp danh của người tu Phật, một danh xưng phù hợp với lĩnh vực mà mình phát biểu. Nên biết một bác sĩ nhãn khoa mới có thể khám mắt, một cử tọa mới có quyền phát biểu trong phiên tòa. Không có danh chính ngôn thuận e rằng ông làm chuyện “múa rìu qua mắt thợ”, không loại trừ khả năng“ném đá giấu tay” gây ra chia rẽ hiềm khích trong cộng đồng Phật Tử. Ông còn viết tắt cả tên mình khi đăng đàn đối luận. Một người đã không tôn trọng chính cái tên cha sinh mẹ đẻ của mình, chưa kể pháp danh thì còn mong có được sự tôn trọng của ai khi lập luận ở đây? Ông không viết rõ, tôi còn tưởng ông trùng tên với Cừu Thiên Nhận trong tiểu thuyết Kim Dung, một kẻ thù dai chuyên đâm Bắc, chọc Nam chính hiệu. Ngoài ra, tôi còn thấy ở ông khả năng đọc iểu dường như có chút vấn đề. Tôi không hiểu ông đọc ở đâu mà bảo rằng bạn đọc Thiên Lang “chạm” đến chúng tôi. Thiên Lang chưa hề nhắc đến cụm từ Mật Gia Song Nguyễn trong bài đối luận với tác giả Phạm Đức Dũng, trong bài viết của mình cũng như comment phản hồi với bạn Ngọc Bích. Còn những gì Mật Gia đối luận với Thiên Lang là dựa trên nền tảng Chánh Kiến để minh định thực nghĩa vấn đề mà Thiên Lang đề cập. Đây gọi là “Tác Pháp” để “Chiếu Quang” chứ không phải xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân của Thiên Lang với Mật Gia hay chiều ngược lại. Giữa chúng tôi với bạn đọc Thiên Lang không có bất kỳ mâu thuẫn cá nhân nào. Chúng tôi đang làm theo tinh thần “Y Pháp bất Y Nhân” của Đức Phật đã chỉ dạy. Thiên Lang cũng đã nhận sai về lập luận của mình trong phản hồi với bạn Ngọc Bích. Như vậy tôi tự hỏi về mặt lý, Thiên Lang đã không ôm oán tâm mà thiennhan lại mang oán tâm bất bình giùm cho Thiên Lang là vì lí do gì? Hay vì trong mắt ông có “lửa” nên ông mới nhìn ra Mật Gia là ổ kiến lửa? Theo như kết quả từ các trang từ điển tiếng Việt, từ “Ổ” mà ông dùng mang các nghĩa sau đây: 1/chỗ có lót và quây rơm rác để nằm hay để đẻ, thường là của một số loài vật 2/nơi tụ tập, ẩn náu của những kẻ chuyên làm việc phi pháp; cũng dùng để chỉ nhóm người làm việc phi pháp có tổ chức 3/nơi tập trung chứa đựng nguồn gốc bệnh tật 4/nơi được bố trí tập trung lực lượng chiến đấu đánh địch 5/(Phương ngữ) chiếc (bánh mì) Vui lòng ông cho biết cụm từ “Ổ mật tông” mà ông sử dụng mang hàm ý nào trong số các nghĩa trên đây? Cụm từ này hoàn toàn mới trong tiếng Việt, và liệu nó có lưu xuất ra từ một người coi trọng tiếng Việt, một người lịch sự, nghiêm túc, không chạy theo ảo tưởng hay không? Tôi không chắc. Nếu dựa vào vế sau ông so sánh “ổ mật tông” với ổ kiến lửa thì tôi thấy trình độ văn hóa của ông đến đâu. So sánh cả một tông phái đạo Phật với “kiến lửa” là một hành vi hết sức ngông cuồng, và xin lỗi, tôi phải gọi là không có lý trí! Đức Phật đã từng thuyết rằng “như nước biển chỉ có một vị mặn, tất cả giáo pháp của ta chỉ có một vị là Giải Thoát.” Mật Tông là một tông phái Đạo Phật, được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thừa nhận. Được cộng đồng Phật Tử khắp nơi trên thế giới đón nhận. Nơi khai sinh ra những bậc Thành Tựu Giả vĩ đại ngày đêm hoằng dương Chánh Pháp Phật Đà đến cho chúng sanh. Ở Việt Nam ta hay biết đến Đức Pháp Vương Gylawang Drukpa hay Đức Đại Lai Lạt Ma 14 là lãnh tụ tinh thần Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng. Ngài được trao giải Nobel Hòa Bình năm 1989. Một Giáo Pháp chân chính của Đức Phật, một tông phái với hàng ngàn năm lịch sử mà ông gọi là “ổ kiến lửa” thì thực sự hiểu biết của ông ắt hẳn đã chạm đáy. Tiên lượng được người đời sau thường hay nói mà không suy nghĩ với sự chủ quan của mình, Phật thuyết: “Người ngu nghĩ mình ngu, Nhờ vậy thành có trí. Người ngu tưởng có trí, Thật xứng gọi chí ngu.” (kinh Pháp Cú) Đức Đại Lai Lạt Ma 14 đã cảnh báo rằng: “Những ai nói sai về Mật Giáo sẽ không còn thân mạng để tiếp tục”. Nay ông thiennhan vừa phạm một sai lầm trầm trọng là phỉ báng Mật Tông trong khi chưa hiểu thực chất vấn đề. E rằng hậu quả để lại cho ông thực sự không nhẹ, Ông viết “Người tu hành chánh đạo, cho dù có có bị người đời chưởi mắng cũng không nổi lên sân hận tranh cãi”. Xin lỗi tôi không hiểu lắm, ông bảo rằng không nên “sân hận tranh cãi”, thế nhưng ông bảo người khác nào là “ổ mật tông”, rồi thì “ổ kiến lửa”. Còn “đá xéo” chúng tôi rằng không được thế này thế kia. Có người nào thân ái với nhau mà gọi nhau bằng “ổ kiến lửa” không vậy thiennhan. Từ đây tôi thấy rõ bộ mặt “đạo đức giả”, “ngụy quân tử” của ông đúng như 4 đặc điểm của kẻ Ác Tri Thức mà đạo hữu Mật Diệu Hằng đã trích dẫn. Ông nói ra những điều răn dạy người khác có vẻ cao đẹp lắm nhưng lại xổ ra những ngôn ngữ chợ búa, thô tháo và dìm hàng. thiennhan nói rằng "Người tu hành chánh đạo, cho dù có có bị người đời chưởi mắng cũng không nổi lên sân hận tranh cãi," thì đây là tâm ý chủ quan của ông và nó hoàn toàn không thể tin cậy được bởi ông không phải là bậc thánh, vì Đức Phật dạy rằng "Này các tỳ kheo, đừng tin vào tâm ý mình khi chưa đắc thánh quả" (Kinh Tứ Thập Nhị chương). Sau đây tôi trích dẫn một số lời Đức Phật và các bậc Thánh Chúng để làm rõ cho ông về việc đối luận của Mật Gia có phải sân hận hay không. “Nếu thấy bậc hiền trí, Chỉ lỗi và khiển trách, Như chỉ chỗ chôn vàng; Hãy tiếp cận người trí! Thân cận người như vậy, Chỉ tốt hơn không xấu” (Pháp cú 76, phẩm Hiền Trí) Ngài Long Thọ đã khẳng định rằng: “đời nếu không có luận, người mê lầm đông”, vì vậy cần đến những Bồ Tát “tác pháp chiếu quang” cho chúng sanh ra khỏi mê lầm như tinh thần kinh Đại bát nhã Ba la mật đa, Phẩm Chuyển sanh, Phật dạy: “Lại nữa, Xá Lợi Tử! Có Bồ-tát Ma ha tát, an trụ bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, thường vì hữu tình bị tà kiến mù quáng mà làm pháp soi sáng; cũng đem ánh sáng này, thường tự soi mình, cho đến quả vị Giác ngộ cao tột, từng chẳng lìa bỏ pháp soi sáng này.” Từ những kinh điển trên cho thấy, tác pháp chiếu quang cho chúng sanh là công hạnh của bậc Bồ Tát và với những bậc hiền trí “chỉ lỗi và khiển trách” như vậy, Đức Phật khuyên rằng “thân cận” vì “chỉ tốt hơn không xấu”. Trong khi thiennhan bác bỏ và vu cho là “ổ kiến lửa” thì hoàn toàn trái với lời dạy Đức Phật. Tự hiểu tri kiến về Chánh Pháp, Chánh Đạo của ông bị thiếu sót trầm trọng đến mức nào. Tôi hiểu rằng việc đối luận có thể thiennhan ít tìm iểu trong truyền thống Phật Giáo, nhưng không phải là không có. Chính Đức Phật và các bậc A la hán như ngài Xá Lợi Phất cũng đã nhiều lần đứng ra đối luận với ngoại đạo. Lại nữa, không hiều vì lí do gì mà ông trích dẫn một loạt tư liêu. Tôi không rõ là nhằm mục đích gì? Theo như hiểu biết của tôi thì dường như những trích dẫn này đến từ tác phẩm “Lịch sử Phật Giáo Tây Tạng” của hòa thượng Thích Thánh Nghiêm. Tác phẩm này đã phạm sai lầm nặng nề về nội dung học thuật, tư liệu trích dẫn. Từ đây có thể thấy cho dù thiennhan trích dẫn bài viết từ đây với mục đích gì đi nữa thì những tư liệu này hoàn toàn không có giả trị tham khảo bởi những sai lầm trầm trọng của nó. Một tác phẩm có xu hướng bài xích và dìm hàng Mật Tông Tây Tạng. Phải chăng thiennhan muốn mượn tay tác phẩm này để tiếp tục mục đích “chia rẽ tăng đoàn” của mình? Từ những căn cứ nguy hiểm mà thiennhan đưa ra. Tôi mong ông suy xét kỹ lưỡng kịp thời, đừng vì những suy tưởng vô căn cứ của mình mà tạo ra ác nghiệp. Mong rằng thiennhan và bạn đọc tìm hiểu đến tận cùng rốt ráo bản chất vấn đề trước khi tự ý lập ngôn. Nguyện cho ngọn đuốc Chánh Pháp chiếu sáng khắp muôn nơi. Mật Hạnh Giác.
17/06/16PHẢN HỒI
Gửi thiennhan, Bạn quá chủ quan khi nêu ra những lời nhận xét vô căn cứ như vậy. Tôi nghĩ bạn không đọc toàn bộ bài phản hồi của các đạo hữu Mật Quang Minh, Phạm Đức Dũng và các phản hồi của các đạo hữu khác nên bạn mới viết như vậy. Hơn nữa, những gì bạn nêu ra toàn tự ý lập ngôn, không có lấy một luận chứng, luận cứ Phật đà nào. Trong khi đó, người tu học theo chánh pháp là dựa trên nền tảng trí huệ Phật đà thông qua thánh giáo lượng nhà Phật, tuân theo lời dạy của đức Thế Tôn. Như vậy, những lời nhận xét chủ quan của bạn đã chỉ rõ bạn không hề hiểu thế nào là chánh đạo, chánh pháp, việc viết phản hồi của bạn rơi vào phiếm luận thế tục chứ không phải luận đàm Phật pháp. Bởi vì luận đàm thế tục nên thiennhan dùng từ ngữ thô tháo “Ông Thiên Lang đã chạm phải ổ mật tông ở VN rồi, đụng phải giáo phái này là coi chừng đụng phải ổ kiến lửa đấy”, trong thuật ngữ Phật giáo không có từ nào là “ổ mật tông” bạn nhé. Bạn suy nghĩ tông phái nhà Phật là “ổ” thì đủ hiểu môi trường sống của bạn như thế nào rồi vì “vạn pháp duy tâm tạo”. Trong giáo pháp Phật đà, Mật tông là một trong 10 tông phái có lý sự viên dung, lớp lang thứ tự để giúp chúng sanh hữu duyên lìa mê về giác. Bạn thiennhan không nên nói vậy. Vấn đề thứ hai tôi muốn nói đến là luận điểm chưa đúng theo quỹ đạo chánh pháp của bạn: “Người tu hành chánh đạo, cho dù có có bị người đời chưởi mắng cũng không nổi lên sân hận tranh cãi”. Bạn hiểu đối luận trong Phật pháp là tranh cãi là không đúng theo chánh pháp. Tất cả những bài đối của các đạo hữu Mật Quang Minh, Mật Hạnh Giác và các đạo hữu khác là “tác pháp chiếu quang” của người Phật tử thực hành trên con đường Bồ tát đạo, trong Kinh Đại bát nhã Ba la mật đa, Phẩm Chuyển sanh, Phật dạy: “Lại nữa, Xá Lợi Tử! Có Bồ-tát Ma ha tát, an trụ bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, thường vì hữu tình bị tà kiến mù quáng mà làm pháp soi sáng; cũng đem ánh sáng này, thường tự soi mình, cho đến quả vị Giác ngộ cao tột, từng chẳng lìa bỏ pháp soi sáng này.” Ngoài ra, ngài Long Thọ trong tác phẩm “Luận phương tiện tâm” cũng đã dạy về vấn đề đối luận trong Phật pháp để minh định chánh tà giúp những người mê lầm quay về với chánh pháp: “Nay tạo luận này không phải vì hơn thua, vì danh lợi, chỉ muốn làm rõ các tướng thiện ác nên tạo luận này. Đời nếu không có luận, người mê lầm đông, bị tà trí biện luận xảo quyệt của thế gian lừa dối làm mê hoặc, khởi các nghiệp bất thiện, luân hồi ác thú mất lợi ích chân thật. Nếu thấu đạt luận thì tự mình phân biệt tướng không của thiện ác. Các ma ngoại đạo, người tà kiến không thể quấy nhiễu phá hoại làm chướng ngại.” Hơn nữa, bạn hiểu sai tinh thần đả tà xây chánh của Phật tử chân chánh thành sân hận thế tục. Tôi khuyên bạn nên đọc lời dạy của đức Thế Tôn về đả tà xây chánh trong kinh Đại bát Niết bàn: “Tỳ kheo giữ pháp thấy có người phá giới hủy hoại chánh pháp, bèn nên khu khiển, quở trách, cử tội. Tỳ kheo này là đệ tử của Như Lai, là chơn thật thanh văn. Nếu thấy mà bỏ qua, thời nên biết tỳ kheo này là người hại Phật pháp” (Kinh Đại bát Niết bàn, phẩm Trường thọ-Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch). Bạn hiểu thế nào là tỳ kheo, thế nào là chữ tăng? Tăng ở đây có nghĩa là thanh tịnh nơi tâm và tuân theo giới luật của đức Phật, như lời Ngài dạy trong kinh Pháp Cú: “Bậc tỳ kheo đích thực Không phải đi khất thực. Bậc tỳ kheo đích thực. Là sống theo giới luật” Chính vì vậy mà Phật trước khi nhập diệt Niết Bàn, Phật khuyến cáo: “… Nếu biết rõ vị tỳ kheo nào đó trong Tăng đoàn phá giới, đừng vì lẽ người ấy mặc áo cà sa mà cung kính lễ bái… (kinh Đại bát Niết bàn, phẩm Như lai tánh, quyển 1). Do vậy, tiếp thu Thánh ngôn trên tinh thần “y nghĩa bất y ngữ”. Có thể hiểu “tỳ kheo” cũng nói rộng ra là hành giả, là Phật tử. “Phá giới hủy hoại chánh pháp” nói rộng ra là hoạt động, cổ súy và bảo vệ cho tà kiến. “Khu khiển, quở trách, cử tội” nói rộng ra là đối luận để minh định Chánh pháp với phi pháp. Trên tinh thần ấy, Phật dạy “Thấy (sai) mà bỏ qua, thời nên biết tỳ kheo này là người hại Phật pháp”. Chính trong đời sống thế gian cũng có sự khuyến cáo tránh “đồng lõa” với việc sai quấy của người khác kia mà! Vậy, việc “đối luận với luận chứng luận cứ không khoan nhượng đối với tà kiến” để làm sáng tỏ tri kiến Phật môn, có mang tâm phe phái, ghét bỏ hay “tẩy chay” gì đối với đồng đạo không? HOÀN TOÀN KHÔNG! Bởi sâu xa của bản chất chân thật thì đó là lòng từ bi, là Bồ-đề-tâm dụng chỉ có ở một tinh thần “Lục hòa” chân chính, như đoạn Kinh sau đề cập: “Phật dạy: Ác tri thức có 4 bọn: 1.Bên trong ôm oán tâm, mà bên ngoài gắng gượng làm ra vẻ bạn tri thức 2.Trước mặt nói tốt mà sau lưng nói xấu 3.Lúc mình có việc gấp, đối trước mặt bộ sầu khổ mà sau lưng thì vui mừng 4.Bề ngoài giả làm như thân hậu mà bề trong toan mưu gây oán Thiện tri thức cũng có 4 thứ: 1.BỀ NGOÀI HÌNH NHƯ KHÔNG TỐT, MÀ BÊN TRONG CÓ Ý TỐT. 2.THẲNG THẮN CAN GIÁN NGAY TRƯỚC MẶT MÀ SAU LƯNG THÌ VẪN NÓI ĐIỀU TỐT CỦA BẠN. 3.Những khi đau ốm, hoặc bị huyện quan đòi hỏi, hay phải đi chinh chiến thời lo lắng tìm hết cách che chở giải cứu. 4.Thấy kẻ nghèo cùng không nỡ bỏ qua, thường nghĩ tìm phương tiện khiến cho được giàu có. Đức Phật dạy: nên chọn lựa bạn lành mà theo; mà kẻ ác nên tránh xa. Ta nhờ nương theo bạn lành nên mới được thành Phật”. (theo Kinh Lục Phương Lễ – Hòa thượng Thích Trí Nghiêm dịch)” Do vậy, trong kinh Pháp cú, đức Phật đã dạy: “Dù nói hàng ngàn lời vô ích, không bằng chỉ nói một lời đúng Chánh Pháp”. Đồng thời, trong Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật có dạy: “Không nên nói lời vô nghĩa. Phải giữ gìn lời nói. Lời nói phải chân thật, đúng lúc, hợp Chính Pháp, ích lợi cho mình cho người”. Nói theo chánh pháp không phải là lúc nào cũng “hèn nhát” im lặng trước mọi việc tà kiến. Minh chứng là, trong kinh Trung Bộ tập I trang 300, kinh Dụ Con Rắn có thuyết như sau: “Này Arittha, có phải chăng, ông khởi lên ác tà kiến như sau: “Theo tôi hiểu thật sự không có chướng ngại gì?”. Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn theo như con biết. Thật sự không có chướng ngại gì? “ - Kẻ ngu si kia! Sao ông lại hiểu pháp ta thuyết như vậy? Này kẻ ngu si kia, có phải chăng...”. Thiennhan thấy đó, ngay đức Phật, ngài là bậc toàn giác cũng “sân hận” với kẻ tà kiến, và ngài đã nói thẳng “kẻ ngu si kia”, vậy bạn cho rằng đức Phật không theo chánh Pháp, chánh đạo? Với tâm phàm tục thế sự như bạn thì làm sao hiểu được lời khiển trách răn dạy của đức Phật với người đệ tử, tuy mạnh mẽ nhưng là những ái ngữ chỉ thẳng không tư vị ai cả, ngu là nói ngu, dốt là nói dốt, đề giúp họ lìa bỏ ác tà kiến, giúp họ thoát khỏi luân hồi sinh tử. Thiennhan tự ngẫm xem có hành vi nào tốt hơn và từ bi hơn việc giúp người tà kiến quay về chánh kiến? giúp chúng sanh hữu duyên mãi mê lầm trong nấm mồ sinh tử tối tăm đau khổ nhìn thấy ánh sáng mặt trời chân lý và có được hạnh phúc chân thật Niết Bàn? Ngày này, con người thế tục sống với nhau còn nâng cao vài trò đạo đức, tình thương đối với mọi người xung quanh với truyền thống “lá lành đùm là rách”, một người phụ nữ yếu đuối bị ức hiếp ngoài được còn được mọi người qua đường giúp đỡ, một người chẳng may gặp nạn sẽ luôn nhận được sự trợ giúp của bao tấm lòng nhân ái. Người thế tục sống có đạo đức còn làm được như vậy, lẽ nào một Phật tử chân chính, đệ tử của đức Thế Tôn, ngài là bậc toàn giác luôn là tấm gương sáng về Bi, Trí, Dũng, không làm theo lời dạy của ngài? Bên cạnh đó, nếu tu học Phật thì ai cũng biết tất cả chúng sanh đều đã từng là cha là mẹ, là anh là em, là học hàng thân thích của Phật tử trong nhiều đồi nhiều kiếp, do vậy đối với Phật tử chân chính, bồ đề tâm với mọi chúng sanh đều như nhau và đều có một mục đích duy nhất giúp chúng sanh hữu duyên lìa xa tà kiến, đến được với chánh kiến và tu tập để được “an lạc đời này, cực lạc đời sau”. Tôi rất mong thiennhan hay bất kỳ ai đọc những bài đối luận của các phật tử chân chính có sự nhìn nhận thấu đáo vấn đề, nhằm giúp mình giúp người tránh xa tà kiến, ác tri thức ngõ hầu không lầm đường vào ba cõi thấp.
17/06/16PHẢN HỒI
Gửi thiennhan! Tôi là Mật Quốc Sanh, hành giả Phật giáo Mật tông Tây Tạng, dòng truyền thừa Ninh Mã, pháp hệ Quán Thế Âm, tại Mật gia Song Nguyễn, hội viên CLB UNESCO Khảo cứu và ứng dụng Yoga Tây Tạng, Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng thuộc UIA.Trước luận điểm tà kiến, tin vào tâm ý mình của Thiên Lang nên học trò Mật gia Song Nguyễn theo lời dạy của Đức Phật thực hành "tác pháp chiếu quang" trong Kinh Đại bát nhã Ba la mật đa, Phẩm Chuyển sanh: "Lại nữa, Xá Lợi Tử! Có Bồ-tát Ma ha tát, an trụ bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã-ba-la-mật-đa, thường vì hữu tình bị tà kiến mù quáng mà tác pháp soi sáng; cũng đem ánh sáng này, thường tự soi mình, cho đến quả vị Giác ngộ cao tột, từng chẳng lìa bỏ pháp soi sáng này". Bạn không đủ khả năng phân biệt được đối luận trong đạo pháp để phân định chánh-tà và "tranh cãi thế tục". Hơn nữa, thiennhan cho rằng chúng tôi sân hận, chỉ lỗi người khác tôi thì không phải chánh pháp, chánh đạo thì phải bạn tự cho thấy sở học cạn cợt của mình và phỉ báng chư Phật, các bậc thánh tăng, cổ đức rồi. Bởi lẽ, Chúng tôi noi theo lời dạy của Đức Phật trong trong Kinh Pháp Cú, phần VI – Phẩm Hiền Trí: “Nếu gặp bậc hiền trí Chỉ lỗi và khiển trách Như chỉ chỗ chôn vàng Hãy kết thân người trí Kết thân với vị ấy Chỉ có lợi không hại” Đức Phật dạy là không nhìn lỗi liên quan đến việc thế gian của người khác, không nhìn lỗi liên quan đến tham, sân, si của thế tục và đi ngoài quỹ đạo chánh pháp. Còn vấn đề minh định chân ngụy, chánh tà cần phải suy xét đến cùng. Vì vậy, trong kinh Đại Bát Niết Bàn, đức Phật đã dạy: “Tỳ kheo giữ pháp thấy có người phá giới hủy hoại chánh pháp, bèn nên khu khiển, quở trách, cử tội. Tỳ kheo này là đệ tử của Như Lai, là chơn thật thanh văn. Nếu thấy mà bỏ qua, thời nên biết tỳ kheo này là người hại Phật pháp” (Kinh Đại bát Niết bàn, phẩm Trường thọ-Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch). Theo tinh thần "khu khiển, quở trách, cử tội" ấy mà thánh tăng Gampopa đã chỉ ra 14 lỗi, là những thất bại trầm trọng của người tu Phật. Với những điều thiennhan nói ra đều không luận chứng, luận cứ hơn nữa lại phỉ báng giáo pháp mà tạo ác nghiệp đoạ địa ngục. Luật tắc Nhân-Quả không sai chạy, nên thiennhan hãy cẩn ngôn, đừng vọng ngôn, ác ngữ hay "tung bụi ngược chiều gió, "phun nước miếng lên trời xanh", rốt cuộc tự hại chính thân căn, huệ mạng của mình. Mật Quốc Sanh.
17/06/16PHẢN HỒI
Trích: "Mặc dù Phật giáo phát triển mạnh, nhưng người dân Tây Tạng vẫn ưa chuộng huyền thuật hay phép màu do ảnh hưởng lâu đời củađạo Bon Pa để lại. Ảnh hưởng này ngấm ngầm chi phối dân Tây Tạng trong việc tiếp nhận các luồng tư tưởng Phật giáo khác nhau. Theo chiều dài của lịch sử, Phật giáo Tây Tạng chịu ảnh hưởng của bốn luồng tư tưởng; đó là: 1) Luồng tư tưởng này đến từ phương Nam và là sự tổng hợp các tư tưởng đại thừa do một số học giả bậc nhất của đại học Ma-kiệt-đà truyền đến. Họ đã sắp xếp nội dung bộ Bát Nhã Ba-la-mật thành 25,000 bài kệ có đánh số rõ ràng và đây được xem như là bước đầu tiên trong việc thiền quán về bộ kinh này. Vì đã được chú giải trước ở Ấn Độ nên khi truyền đến Tây Tạng thì bộ Hiện Quán Trang Nghiêm Luận đã trở thành nền tảng căn bản để đào luyện những tư tưởng cao hơn mà không lệ thuộc hệ thống Mật tông. 2) Luồng tư tưởng thứ hai đến từ phía Đông là của phái Nhất thiết hữu bộ. Tuy được sự thỉnh mời của vua Tây Tạng, nhưng bộ phái này không bao lâu đã trở thành mờ nhạt vì người dân Tây Tạng không mấy tích cực về những giáo lý mà chỉ thích phép mầu, thần thông. 3) Luồng tư tưởng thứ ba cũng đến từ phía Đông do các thiền sư Trung Hoa truyền sang. Các vị này đã có rất nhiều nỗ lựcđể chuyển lối sống của người dân Tây Tạng sang theo lối đại thừa, nhưng sau đó vì ảnh hưởng của mật tông nên họ đã bị thất bại hoàn toàn và bắt buộc phải rời khỏi Tây Tạng. Khoảng năm 775 có cuộc đấu tranh dữ dội giữa những đồ đệ của các bậc thầy Trung Hoa (đại thừa) và những đồ đệ của bậc thầy mật tông. Các tu sĩ Trung Hoa bị dồn ép ác liệt và kết quả họ bị đuổi ra khỏi xứ này. Đây có lẽ đánh dấu cho sự cáo chung của Phật giáo đại thừa bắt đầu truyền vào Tây Tạng vào thời công chúa Văn Thành. 4) Luồng tư tưởng thứ tư là do Đại sư Liên Hoa Sanh (Padma Sambhava) được vua Tây Tạng Ngật Lật Song Đề Tán (755-797) thỉnh từ xứ Udyàna, miền bắc Ấn Độ. Khi nhận lời mời đến Tây Tạng, Đại sư còn đem theo 25 vị đệ tử rất nổi tiếng có tài thần thông biến hóa, hàng phục ma chướng tà đạo. Ấn tượng mà Ngài Liên Hoa Sanh tạo ra với Tây Tạng phần lớn là nhờ vào việc thực hiện những phép mầu, có tài chinh phục ma quỷ và khả năng thần thông biến hóa rất gần gũi với đạo Bon Pa nên được dân Tây Tạng tiếp nhận rất cuồng nhiệt. Những huyền thoại để lại về Ngài có thể là đã vượt qua những sự kiện lịch sử vì dân Tây Tạng xem Ngài là Đức Phật Thích Ca tái thế".
01/07/16
Gửi thiennhan! Tôi là Mật Quốc Sanh, hành giả Phật giáo Mật tông Tây Tạng, dòng truyền thừa Ninh Mã, pháp hệ Quán Thế Âm, tại Mật gia Song Nguyễn, đồng thời là hội viên CLB UNESCO Khảo cứu và ứng dụng Yoga Tây Tạng, Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng thực hành Yoga Tây Tạng thuộc UIA xin có đôi lời trao đổi. Trước hết, khi lưu truyền vào Tây Tạng, Phật giáo đã có đầy đủ giáo luật, giáo nghi, giáo văn (gồm giáo điển và giáo pháp) và có vị giáo chủ là Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật. Đạo Phật khi ấy đã có đủ 12 tạng kinh điển, dựa trên nền tảng, tứ diệu đế, tứ y cứ, tứ pháp ấn, bát chánh đạo và có đầy đủ phương tiện ngũ minh (nhân minh, thanh minh, công xảo minh, y phương minh và nội minh) tại sao lại cho rằng “trong suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo Tây Tạng chịu ảnh hưởng của bốn luồng tư tưởng”. Đây là điều phi lý, tối nghĩa theo kiểu lập lờ đánh lận con đen bởi chiều dài lịch sử là từ đâu đến đâu, thế nào là “luồng tư tưởng” có thể ảnh hưởng tới Phật giáo đây? Dưới đây là sự phân tích cụ thể những sự bất nhất, phi Phật pháp của đoạn trích này: Thứ nhất, với cái gọi là “luồng tư tưởng 1”: đoạn trích của thiennhan từ bài viết của LSMT rằng Phật giáo Tây Tạng ảnh hưởng bởi luồng tư tưởng từ phương Nam do “một số học giả bậc nhất của đại học Ma-kiệt-đà truyền đến” nhưng cụ thể là những ai? Thế nào gọi là “thiền quán về bộ kinh”? Bộ Hiện Quán Trang Nghiêm là chỉ là một trong năm bộ Luận của ngài Di lặc là: 1- Hiện Quán Trang Nghiêm Luận, Abhisamayalamkara, 2- Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, Mahanaya Sutralankara, 3- Trung Biên Phân Biệt Luận, Madhyanta-vibhanga, 4- Pháp Bảo – Pháp Tính Phân Biệt Luận, Dharma-dharmata-vibhaga, 5- Tương Tục Tối Thượng, Uttaratantra thì dựa vào đâu khẳng định đây là nền tảng căn bản? Hơn nữa, căn cứ nào để LSMT cho rằng bộ sách này “đào luyện những tư tưởng cao hơn mà không lệ thuộc vào hệ thống Mật tông”? Giáo điển, giáo pháp theo lời dạy của Đức Phật chỉ có một thừa với ý nghĩa để đạt giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, tại sao lại có sự phân biệt “cao hơn” hay “thấp hơn”? Nếu là các tông phái trong đạo Phật thì chỉ khác nhau ở phương pháp tu tập, sao có sự “lệ thuộc” hay “không lệ thuộc”? Đây là sự lập lờ, bất nhất và tối nghĩa của tác giả. Thứ hai, về “luồng tư tưởng 2”: Đây tiếp tục là một đoạn viết không có đầy đủ luận chứng, luận cứ. Bởi lẽ, không nêu cụ thể ai là người được vua Tây Tạng mời sang giảng dạy về thuyết Nhất thiết hữu bộ? Đã là bài viết về lịch sử thì cần rõ ràng về thời gian, nhân vật, diễn trình nhưng đoạn trích không nêu rõ được các yếu tố này. Thứ ba, về “luồng tư tưởng 3”: Việc sử dụng những từ ngữ như “đấu tranh dữ dội”, “dồn ép ác liệt”, “đuổi ra khỏi”,… là những từ ngữ mô tả về các cuộc đấu tranh, đánh nhau ngoài thế tục, không phải là tinh thần lục hòa theo lời dạy của Đức Phật giữa những người Phật tử. Cuộc tranh luận Lạp tát với việc thắng lợi trên luận trường được Đức Đạt lai Lạt ma XIV giảng tại New York (Hoa Kỳ) và Nicholas Vreeland ghi lại trong tác phẩm “An open heart”: “Stages of Meditation was composed when the thirty-third Tibetan king, Trisong Detsen, invited its Indian author to Tibet in order to defend the analytical approach to Buddhist practice favored in the great Indian monastic universities of Nalanda and Vikramalasila. This form of Buddhism, introduced into Tibet by Kamalashila’s master, Shantarakshita, was being challenged by Hashang, a Chinese monk propounding a view that discouraged anymental activity. In order to establish which form of Buddhism would be followed in Tibet, a debate was held before the king. In the debate between Kamalashila and Hashang, Kamalashila was able to irrefutably establish the importance of mental reasoning in spiritual development and was thereby proclaimed the winner. To commemorate his victory, the king requested that he compose a text establishing his position.” (Tạm dịch: Các giai đoạn thiền định được biên soạn khi vị vua thứ 33 của Tây Tạng là Trisong Detsen thỉnh cầu vị thầy Ấn Độ Liên Hoa Giới (Kamalashila) đến Tây Tạng để bảo vệ cho phương pháp tu tập của đạo Phật thiên về luận giải, vốn rất được ưa chuộng trong các Tu viện Đại học Phật giáo lớn của Ấn Độ là Nalanda và Vikramalasia. Hình thức tu tập này đã được vị thầy của ngài Liên Hoa Giới là ngài Tịch Hộ (Shantarakshita) truyền sang Tây Tạng, và lúc đó đang bị một vị tăng Trung Hoa là Hashang công khai phản bác. Hashang đã đưa ra quan điểm phủ nhận bất kỳ hoạt động tư duy nào trong quá trình tu tập. Nhằm mục đích xác định xem hình thức tu tập nào của đạo Phật nên được áp dụng ở Tây Tạng, nhà vua đã cho tổ chức một cuộc đối luận. Trong cuộc đối luận giữa ngài Liên Hoa Giới và vị tăng Hashang, ngài Liên Hoa Giới đã đưa ra được những luận điểm không thể bác bỏ để xác lập tầm quan trọng của tư duy lý luận trong sự phát triển tâm linh, và do đó ngài được công bố là người thắng cuộc. Để ghi nhớ sự chiến thắng này, nhà vua đã thỉnh cầu ngài soạn ra một bản văn trình bày rõ quan điểm tu tập của ngài ). Như vậy, đây là một cuộc đối luận nhằm minh định chánh kiến về luận điểm, nhằm tìm ra phương pháp tu tập phù hợp với tính quốc độ, tính dân tộc, tính thời đại nhằm lợi lạc quần sanh, không hề nhắc đến sự đấu tranh, dồn ép hay bất kỳ yếu tố nào ảnh hưởng tới tinh thần lục hòa như lời đoạn trích của thiennhan. Thứ ba, về “luồng tư tưởng 4”: Nguồn pháp liệu nào chỉ ra rằng Đại sĩ Liên Hoa Sanh khi đến Tây Tạng có dẫn theo 25 vị đệ tử ? Trong tác phẩm “Những khai thị từ Đức Liên Hoa Sanh về con đường Đại toàn thiện”, nguyên bản “Advice from the Lotus Born” NXB Rangjung Yeshe năm 1994, Việt dịch bởi An Phong – NXB Thiện Tri thức năm 1998,1999 trong phần 5 : Bài ca cho 25 đệ tử có nhắc đến công chúa Tsogyal Yeshe xứ Kharchen, Dorje Dudjom xứ Nanam, thượng thư của của Trisong Deutsen,…thì đây là những vị đệ tử nhận sự truyền dạy từ Đức Liên Hoa Sanh khi ngài đến Tây Tạng, đâu phải dẫn theo khi mới đến ? Ấn tượng mà Đức Liên Hoa Sanh tạo ra đâu chỉ dựa vào những phép màu, sự chinh phục ma quỷ và khả năng thần thông biến hóa ? Công hạnh của ngài là xây dựng tu viện, truyền trao chánh pháp cho các đệ tử và người dân Tây Tạng và để lại những bảo mật tạng cho các thế hệ sau,… Người dân Tây Tạng, những hành giả Mật giáo tôn kính ngài là sơ tổ, sáng lập Phật giáo Mật tông Tây Tạng là vì vậy, không thể khinh suất, phỉ báng như tác giả LSMT cho rằng là do “rất gần với đạo Bôn” được. Mật Quốc Sanh.
16/06/16PHẢN HỒI
Ông Thiên Lang đã chạm phải ổ mật tông ở VN rồi, đụng phải giáo phái này là coi chừng đụng phải ổ kiến lửa đấy. Người tu hành chánh đạo, cho dù có có bị người đời chưởi mắng cũng không nổi lên sân hận tranh cãi, đọc qua những lời viết của ông bà có pháp danh đầu Mật... tư hiểu thế nào là chánh pháp, chánh đạo.
17/06/16
Bạn thiennhan đang muốn phỉ báng hay nói xiên, nói xéo ai chăng? Nơi nào mà gọi là "ổ mật tông ở VN" vậy bạn? bạn đang muốn nói đến "giáo phái" nào vậy!? Xin lỗi, bạn nhầm rồi! sự hiểu biết của bạn có lẽ chưa tới nơi tới chốn nên mới gọi quàng xiên "mật tông" là "giáo phái" này, giáo phái kia. Nếu bạn muốn tìm hiểu và biết rõ thì tôi xin giới thiệu và trân trọng mời bạn vào trang mạng chanhtuduy.com của vị Thầy tâm linh - đạo sư Thinley Nguyên Thành, giáo thọ Tuệ tri thức đạo tràng Mật gia Song Nguyễn, dòng phái Ninh Mã (chứ không phải là "giáo phái" nhe bạn), Pháp hệ Quán Thế Âm. Đây là Trung Tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Thực hành Yoga Tây Tạng, Câu Lạc Bộ UNESCO Khảo cứu và Ứng dụng Yoga Tây Tạng thuộc LIÊN HIỆP CÁC HỘI UNESCO VIỆT NAM, là nơi được nhà nước công nhận và bảo hộ rõ ràng, minh bạch, công khai và chính đại quang minh nhe bạn! Còn bạn thiennhan nói rằng "Người tu hành chánh đạo, cho dù có có bị người đời chưởi mắng cũng không nổi lên sân hận tranh cãi," thì đây là tâm ý chủ quan của bạn và nó hoàn toàn không thể tin cậy được bởi bạn không phải là bậc thánh, vì Đức Phật dạy rằng "Này các tỳ kheo, đừng tin vào tâm ý mình khi chưa đắc thánh quả" (Kinh Tứ Thập Nhị chương). Bạn thiennhan vì hoặc không biết, hoặc chưa tìm hiểu thấu đáo nên mới nhầm lẫn giữa tranh cãi, sân hận với đối luận tác pháp chiếu quang, với nộ pháp đã phá tà kiến đó thôi. Đức Phật khi xưa thành tựu đạo quả Vô thượng Bồ đề mau chóng hơn cả đại Bồ tát Di lặc là nhờ vào công đức của nộ pháp và hoằng pháp, tiêu diệt bọn người tà kiến phá hoại chánh pháp, bạn có biết chăng?! Bạn vui lòng tìm đọc các bộ kinh điển lớn của Đại thừa như Kinh Đại Bảo Tích, Kinh Đại bát Niết Bàn, Kinh Hiền Ngu... để mở mang tri kiến mà bớt đi chủ quan và cái nhìn sai lệch. Cách đơn giản hơn, nhanh hơn để có thể trang bị chánh tri kiến mà rũ bỏ tà kiến về vấn đề này bạn có thể vào đọc bài "SÂN HẬN, NỘ KHÍ, NỘ PHÁP LÀ GÌ?" đã được thầy Thinley Nguyên Thành giảng giải trên Chanhtuduy.com (http://chanhtuduy.com/san-han-no-khi-no-phap-la-gi/). Nơi đây là một kho tàng các bài viết, bài giảng ngút ngàn chánh tri kiến của Thầy. Thầy đã cô đọng, chắc lọc tinh túy Phật pháp cho mọi người thành các bài viết dễ dàng đọc hiểu và dễ thẩm thấu. Đặc biệt nó có sức lan truyền cảm hứng rất lớn để bạn đọc có thể mau chóng thực hành, ứng dụng nhằm lợi mình, lợi người. Mong rằng thiennhan và bạn đọc sau khi đọc xong sẽ tư duy chân chính để hiểu đúng và hành đúng theo chánh pháp về với chánh đạo. Mong lằm thay! Mật Hải - Đỗ Cao Tường
15/06/16PHẢN HỒI
Tôi hoan hỷ tán thán bài viết của các bạn Mật Quang Minh, Lê Thị Bảo Quỳnh, Phạm Ngọc Dung, Phạm Đức Dũng. Những luận điểm, luận chứng, luận cứ của các bạn rất cụ thể, rõ ràng và có tính thuyết phục cao, giúp cho tôi và độc giả có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về đạo Phật. Tôi được nghe, được biết nhiều bậc thánh nhân, vĩ nhân đã nói rằng đạo Phật là một hành trình giác ngộ, là con đường của sự tỉnh thức mang an lạc đến cho muôn loài, chứ hoàn toàn không mang màu sắc mê tín của bùa chú, thần linh, linh phù, nhương sao, đổ hạn... gì gì đó. Những gam màu tối ấy vốn xuất phát từ sự đô hộ và nô dịch văn hóa ngàn năm từ Phương Bắc lên dân tộc Việt nhằm mục đích vị ngã của giai cấp thống trị, chứ vốn tự bản chất trong đạo Phật dù là Mật tông hay Thiền, Tịnh, Hoa Nghiêm, Thiên thai tông.vv... đều chỉ cùng hướng đến vị tha, giải thoát . Nào đâu đạo Phật nói chung hay Mật tông nói riêng lại mang màu sắc thần quyền, tà kiến như tác giả Thiên Lang nói đến trong đoạn văn mà các bạn đã phân tích!? Hiện nay Mật tông Tây Tạng nói riêng và Phật giáo nói chung đã và đang được hàng triệu triệu người trí thức trên toàn thế giới ngưỡng mộ, ủng hộ và thực hành theo. Và không hề có chuyện "Mật giáo chủ trương tôn thờ các thế lực siêu nhiên thần linh" hay "hành pháp bằng bùa chú, ấn quyết…". Bởi lẽ có rất, rất nhiều Đạo sư, vị Thầy tu hành theo Mật giáo Tây Tạng (Như Đức Đạt lai Lạt ma XIV, Pháp Vương Gyalwang Drukpa XII, Lama Zopa Rinpoche, Đạo sư Thinley Nguyên Thành ở Việt Nam.v.v và v.v..) đang ngày đêm giảng dạy đạo lý, ứng dụng Phật pháp vào cuộc sống để đem đến lợi lạc cho nhân sinh. Có biết bao Phật tử trên toàn thế giới là những doanh nhân, trí thức,... thành đạt với việc ứng dụng lời dạy cao quý của đức Phật vào công việc để lợi mình, ích người. Họ theo Mật tông nhiều vô số kể đấy nhưng họ đâu có tôn thời một thế lực siêu nhiên, thần linh nào đâu!? Họ quay về nương tựa Phật Pháp Tăng và bậc Thầy dạy đạo của họ tức là nương tựa vào Giác, Chánh, Tịnh và Nền tảng giác ngộ cơ mà!? Hiện nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam (có cả Thiền, Tịnh, Mật tông) cũng chủ trương hành đạo theo tôn chỉ "Đạo pháp - Dân tộc - Xã hội chủ nghĩa" với nhiều, rất nhiều hoạt động vì cộng đồng, vị nhân sinh nhằm ích nước, lợi dân. Lẽ nào Thiên Lang không thấy sao mà lại nói "Việc hành pháp này trở nên dễ dàng tiếp cận với xã hội đa thần của Việt Nam". Xã hội Việt Nam đã và đang là Xã hội chủ nghĩa rồi mà! Thiên Lang quên rồi sao? Hay Thiên Lang đang cố tình cổ súy cho một nền văn hóa đa thần giáo tà kiến, mê tín tại Việt Nam?
Gửi bình luận
Họ và tên *
E-mail *
Tiêu đề
Nội dung *
 
 
 
 
 
 
XEM NHIỀU NHẤT
 
 
 
 
 
 
  • Bình Luận

    Bình luận

    Sau một thời gian tạm lắng, dư luận tiếp tục ồn ào xung quanh chuyện đề xuất cải tiến chữ tiếng Việt của PGS.TS Bùi Hiền được vào đề thi Ngữ văn một số trường THPT. Có nhiều ý kiến phản ứng gay gắt về cách làm này.

  • Bình Luận

    Bình luận

    Học thuyết kinh tế của John M. Keynes diễn tả trong tác phẩm nổi tiếng của ông (Lý thuyết tổng quát về nhân dụng, lợi tức và tiền tệ) đã nhấn mạnh đến các hiện tượng tiêu cực mang tính phổ biến ở các nước kinh tế chậm phát triển, làm cho các nước đó càng luẩn quẩn trong vòng chậm tiến.

  • Bình Luận

    Bình luận

    Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM Lê Hồng Sơn trả lời đại biểu tại phiên chất vấn kỳ họp thứ 6, HĐND sáng 6.12 về biên soạn sách giáo khoa rằng, sau khi biên soạn xong, bộ sách sẽ được trình lên Bộ GD-ĐT để bộ phê duyệt trước rồi mới thực hiện, tất nhiên phải hoàn tất trước khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới.

  • Quốc Phong

    Nhà báo

    Trong tổng số 88 trạm thu phí BOT trên cả nước thì trong đó đã có đến 13 trạm "có vấn đề" kiểu như Cai Lậy, Tào Xuyên... và Bộ GTVT cùng các bộ, ngành liên quan đã cho điều chỉnh phí thì cũng rất cần truy tiếp xem có bao nhiêu nhóm lợi ích can thiệp vào nó để đến nông nỗi này?

  • Nguyễn Công Khế

    Nhà báo

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã quyết định một việc rất đúng vào buổi chiều hôm qua, là tạm dừng thu phí ở trạm BOT Cai Lậy 30 ngày để làm rõ tính pháp lý cũng như những khuất tất bên trong trạm BOT này.